Thứ Tư, 11 tháng 6, 2014

Những trái tim Việt Nam


Những Trái Tim Việt Nam
Sáng tác: Phương Uyên


Người Việt Nam vốn rất yêu hòa bình
Ghét chiến tranh hận thù
Nhưng non sông kêu tên chúng ta
Sẵn sàng tôi đứng lên.

Người người nghe tiếng quê hương vẫy gọi
Tổ quốc đang kêu tên mình
Tiếng núi sông đang giục giã trong tim ta
Sóng cũng đang dâng trào
Thấy trong ta tự hào
Đoàn kết cho ta sức mạnh
Băng qua bão giông.

Việt Nam ơi đứng lên
Việt Nam mãi vững bền
Bốn phương trời mình cùng dang tay gìn giữ núi sông
Việt Nam tôi đứng lên
Và thắp sáng niềm tin chiến thắng
Không thể nào ngăn tôi yêu quê hương Việt Nam.

Hừng hực nghe tiếng quê hương vẫy gọi
Tổ quốc đang kêu tên mình
Tiếng núi sông đang giục giã trong tim ta
Sóng cũng đang dâng trào
Thấy trong ta tự hào
Đoàn kết cho ta sức mạnh
Băng qua bão giông.

Việt Nam ơi đứng lên
Việt Nam mãi vững bền
Bốn phương trời mình cùng dang tay gìn giữ núi sông
Việt Nam tôi đứng lên
Và thắp sáng niềm tin chiến thắng
Không thể nào ngăn tôi yêu quê hương Việt Nam.

Con tim muốn nói: Tôi yêu Việt Nam!!!

(Người người nghe tiếng quê hương vẫy gọi
Tổ quốc đang kêu tên mình
Tiếng núi sông đang giục giã trong tim ta
Sóng cũng đang dâng trào
Thấy trong ta tự hào
Đoàn kết cho ta sức mạnh
Băng qua bão giông.

Việt Nam ơi đứng lên
Việt Nam mãi vững bền
Bốn phương trời mình cùng dang tay gìn giữ núi sông
Việt Nam tôi đứng lên
Và thắp sáng niềm tin chiến thắng
Không thể nào ngăn tôi yêu quê hương Việt Nam.) x2

(Việt Nam ơi đứng lên
Việt Nam mãi vững bền
Bốn phương trời mình cùng dang tay gìn giữ núi sông
Việt Nam tôi đứng lên
Và thắp sáng niềm tin chiến thắng
Không thể nào ngăn tôi yêu quê hương Việt Nam.) x3



Con tim muốn nói: Tôi yêu Việt Nam!!!

Ta chẳng ngại dâng hiến, ta chẳng ngại hy sinh
Tổ quốc ơi! Hãy kêu tên tôi!!!

Nhà trường thất bại thì cả xã hội thất bại

Lời ngỏ: Ngồi lục lại mấy bài báo hay lưu trong máy, vô tình tìm thấy bài này của trang báo Sài gòn tiếp thị online - một tờ báo hay, dám nói lên sự thật,  nhưng đã bị "xóa sổ" vì lý do ... Việc xóa bỏ một tờ báo hay thế này khiến nhiều người rất thất vọng. Tạm bỏ qua điều đó, xin chia sẻ lại với các bạn bài báo hay này. 
SGTT.VN - “Dân tộc nào có những nhà trường tốt nhất, dân tộc đó sẽ đứng trên các dân tộc khác, hôm nay chưa vào vị trí ấy thì là ngày mai” – thông điệp của Jules Simon, triết gia kiêm chính trị gia người Pháp khiến Phạm Anh Tuấn tâm đắc đến mức âm thầm bỏ công sức dịch những tác phẩm mang tư tưởng canh tân giáo dục. 
Là con trai nhà giáo dục Phạm Toàn, sự tương đồng trong quan điểm sống đã giúp họ trở thành hai người bạn trên cùng trận tuyến đầy gian khó để làm thay đổi tư duy giáo dục. Theo Phạm Anh Tuấn, đổi mới giáo dục chính là cứu trẻ em, những người có thể làm thay đổi định mệnh dân tộc.
Với việc dịch tác phẩm Dân chủ và giáo dục của John Dewey, dường như anh muốn thay đổi hẳn cách nghĩ về trẻ em trong nhà trường?
John Dewey là nhà giáo dục có ảnh hưởng rất lớn tới trường học cho tới tận ngày hôm nay ở rất nhiều nước, thật tiếc là Việt Nam không nằm trong số đó. Trường học là của trẻ em chứ không phải của người lớn. Giáo dục không phải là chuẩn bị cho trẻ em cuộc sống tương lai.
Giáo dục là bản thân cuộc sống. Nhà trường áp dụng lối dạy áp đặt, nhồi sọ, học vẹt, học suông, thì trong trường hợp tốt nhất cũng chỉ có thể cung ứng cho xã hội những cá nhân giỏi chuyên môn thật đấy song mang tư cách của kẻ nô lệ. Nhà trường phải là nơi để trẻ em tập sống cuộc sống dân chủ, nhà trường là một xã hội dân chủ thu nhỏ. Một xã hội muốn trở thành xã hội dân chủ thì cuộc sống nhà trường phải dân chủ.
Khi xã hội bất ổn, nhà trường thường quay sang đổ lỗi cho giáo dục gia đình, theo anh điều đó có đúng không?
Xã hội bây giờ giống như một sới vật khổng lồ, người ta lao vào kiếm sống, kiếm tiền bằng mọi cách cốt sao cho thật nhanh, thu được thật nhiều món lời. Có cảm tưởng như ai cũng sợ mất phần, ai cũng sợ không đến lượt mình hoặc đến lượt mình thì hết phần. Hầu như chẳng ai còn tin ai nữa. Lẻ tẻ trong những gia đình nho nhỏ vẫn còn tình thương yêu có thật, đó là tình mẫu tử, tình phụ tử… nhưng nói thật nhé, trong chừng mực nào đó cái tình cảm ấy là tự nhiên, có thể tìm thấy ngay cả ở loài động vật bậc thấp! Để tạo ra những giá trị mới mẻ, nếu nhà trường không làm thì ai làm? Gia đình là định mệnh tự nhiên, còn nhà trường là nơi có thể chủ động tạo ra năng lực yêu thương, năng lực cảm thông, tạo ra tri thức. Trẻ con không thể chọn cha mẹ, may nhờ rủi chịu, nhưng nhà trường phải là nơi mang đến cơ hội công bằng cho tất cả, để thay đổi số phận. Nếu nhà trường thất bại thì cả xã hội thất bại. Bản chất của sự rối loạn hiện nay là do nhà trường không hoàn thành nhiệm vụ của mình. 50 học sinh là 50 số phận, nhưng nhà trường là số phận chung, nếu nhà trường làm đúng thì sẽ giúp các em vượt qua số phận cá nhân. Học chính là để vượt qua số phận cá nhân.
Với gần mười tác phẩm đã dịch, không dừng lại ở những tác phẩm triết học mang tính luận đề như Cách mạng học tập, Văn hoá và bá quyền... anh còn bước sang lĩnh vực văn chương như Chuyện của Paco. Được đào tạo căn bản về tiếng Pháp, vì sao anh lại chọn dịch tác phẩm của một nhà văn Mỹ?
Trường học là của trẻ em chứ không phải của người lớn. Giáo dục không phải là chuẩn bị cho trẻ em cuộc sống tương lai. Giáo dục là bản thân cuộc sống.
Chỉ là tình cờ thôi. Sau khi bản dịch ra đời, tôi có viết liền mấy bài giới thiệu về tác giả Larry Heinemann và tác phẩm của ông cùng một chút hiểu biết của tôi về văn học Mỹ. Nhờ dịch Chuyện của Paco mà tôi được kết thân với nhà văn Mỹ L. Heinemann. Được dịch một tác phẩm mà tác giả còn sống, lại được gặp trực tiếp ông ấy, có điều gì đó thật thú vị. Tôi gọi L. Heinemann là “người kể chuyện của nước Mỹ”. L. Heinemann có thú nhận là ông có nhiều điểm chung nhất với nhà văn Bảo Ninh: cả hai đều là những người lính trong cuộc chiến Việt Nam, cả hai sau khi xuất ngũ đều theo học một lớp sáng tác ngắn ngày và sau đó cho ra mắt tác phẩm đầu tay với lối viết không thi vị hoá chiến tranh. Chuyện của Paco, giống như trường hợp Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, thoạt đầu đã gây sốc cho độc giả. Nhưng L. Heinemann nói rằng ông không đi lính để trở thành nhà văn mà ngược lại. Sau Chuyện của Paco với giải thưởng Sách quốc gia của Mỹ năm 1986 dành cho thể loại hư cấu, L. Heinemann hầu như không viết nữa. Hiện ông dạy học tại đại học Texas A&M và lúc rảnh rỗi thì chơi… golf.
Tôi học tiếng Pháp ở đại học sư phạm và thực tế là tôi tiếp xúc với rất nhiều người Pháp. Nhưng tôi thấy khó thân với người Pháp. Người Mỹ rất chân thật, không điệu đàng. Và họ có khả năng sống sót, thoát hiểm rất giỏi. Như anh chàng Paco trong Chuyện của Paco.
Không chỉ dừng lại ở vai trò một dịch giả, anh còn nỗ lực rất nhiều trong việc “quảng bá tri thức” với những bài viết mạnh mẽ, đánh động dư luận?
Mổ xẻ tác phẩm dưới nhiều góc cạnh, nỗ lực quảng bá tư tưởng của cuốn sách do mình dịch để nhiều người cùng biết, cùng hiểu là việc làm hữu ích của người dịch sách chân chính. Tôi học được điều này từ nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn.
Từng kiếm sống bằng rất nhiều nghề, bây giờ lại chọn cách tồn tại như một dịch giả tự do, theo anh, giữ được sự độc lập cho chính mình trong hoàn cảnh hiện nay có khó không?
Về đời sống vật chất thì không khó khăn lắm, nhưng trong xã hội hiện đại, quả thật rất khó để giữ được sự độc lập, vì tốc độ giao tiếp, truyền thông vô cùng nhanh, phổ giao tiếp thì rộng, xã hội lại là “đa thần tượng” hoặc đa ảo tưởng. Tự do là khởi đầu của mọi sự, không tự do thì không có gì. Nếu một người không tìm được giá trị cho riêng mình thì không thể có tự do. Đọc sách, thưởng thức cuộc sống chính là cách để có tự do. Đánh mất thói quen đọc sách theo tôi là đánh mất tự do, lỗi đó không phải do xã hội, mà do chính mình.
Cuộc đời tôi hầu như là tự học. Hồi bốn hay năm tuổi gì đó, ở nơi sơ tán, chiều chiều bố hay dẫn tôi ra sông Đáy, vừa đi ông vừa dạy tôi tiếng Pháp theo kiểu truyền khẩu. Sau khi tốt nghiệp sư phạm ngoại ngữ khoa Pháp, tôi làm việc tại công ty xuất nhập khẩu sách báo (Xunhasaba), được đi nước ngoài nhiều. Một dạo tôi bỏ Việt Nam sang Đức làm việc, đó là thời gian tôi học nhiều trong cuộc sống. Bố tôi thường đùa là tôi làm 36 nghề rẻ tiền, có thời còn làm thợ khoá…
Hồi còn sinh viên, hiểu biết có là mấy, lại không có từ điển gì cả, bố tôi đã “hành hạ” tôi bằng cách cho dịch những tài liệu triết học rất khó. Nhờ lăn lộn, va chạm mà trưởng thành. Trong con người tôi từ bé đã có mầm mống nổi loạn, không đồng ý với cái hiện tại. Cái đó cũng rất nguy hiểm. Lại được tiếp xúc nhiều với những con người có tư tưởng, những nhân vật có chủ kiến không giống đa số người cùng thời. Hồi tôi còn nhỏ, nhà tôi giống như một thứ “salon” tụ tập nhiều trí thức, văn nghệ sĩ. Không khí đó giống như thứ mưa dầm ngấm lâu, gây ảnh hưởng vô thức tới tôi, một đứa trẻ như tôi rất dễ nhập tâm, âu cũng là định mệnh gia đình.
Trần Trọng Vũ từng viết về cha mình – nhà thơ Trần Dần: “Thời ấy, sống ngay cạnh nhau, trong cùng một căn hộ, nhưng mỗi người trong phòng của mình, không có những chia sẻ thân thiết. Vì nỗi cô đơn của mỗi người quá lớn”… đó phải chăng cũng là tâm trạng của anh?
Đúng thế. Trong gia đình tôi, ba anh em là ba tính cách. Hai em tôi không học gì ở bố một cách công khai. Chỉ có tôi ôm lấy cái nghiệp của bố mình. Nhiều khi quá mệt mỏi vì chiến đấu, tranh cãi, chỉ thấy ông tủm tỉm cười. Khi bố tôi dịch tác phẩm của Phạm Quỳnh, ông Phạm Tuyên cảm động lắm.
Bố tôi và tôi đối với nhau vừa xa vừa gần. Quả thật có những điều người ngoài biết, mà con cái không biết. Bố tôi bắt đầu làm giáo dục từ quãng năm 1967 sau khi ông hết ảo tưởng hoạt động văn chương. Trong chiến tranh chống Mỹ, ông thường xuyên đi vào khu Bốn (có lần ông tha về nhà một quả đạn bi “lép” to như quả dứa bự, nhiều năm trời tôi thấy nó được đặt trên chiếc bàn làm việc duy nhất ở trong nhà tôi). Sau năm 1975, ông cùng Nguyễn Trường biên soạn bộ sách dạy tiếng Việt cho học sinh miền núi (bộ sách được tổng liên đoàn lao động Việt Nam tặng bằng lao động sáng tạo năm 1981 và UNESCO châu Á trao giải nhì năm 1984). Thời gian đó ông thường xuyên đi các tỉnh miền núi phía Bắc. Một hoặc hai tháng ông mới về nhà một lần, dịch tài liệu kiếm tiền đưa cho vợ nuôi con rồi lại đi, như một sự chạy trốn. Ít khi bố con ngồi nói chuyện với nhau…
Nhìn lại con đường của cha mình, anh tâm đắc điều gì?
Cuộc đời tình cờ cho tôi có dịp quan sát ở phạm vi gần trường Thực nghiệm giáo dục phổ thông được thành lập năm 1978 của GS.TS Hồ Ngọc Đại. Khi tôi dịch Dân chủ và giáo dục thì tôi có cảm giác như sống lại nhiều năm trước đó. Thật kỳ lạ là tôi chẳng mất nhiều thời gian để hiểu triết lý giáo dục của John Dewey. Điều mà một sinh viên ngồi ở giảng đường nhiều năm chưa chắc đã hiểu thì tôi hiểu ngay từ phút đầu tiên. Cái đó gọi là sự may mắn của tôi.
Hồ Ngọc Đại và trường thực nghiệm của ông có điều gì đó về triết lý giáo dục rất tương đồng với John Dewey và trường thực nghiệm Dewey ở Chicago hơn 80 năm trước. Tương đồng cả trong sự phản ứng của giới làm giáo dục và xã hội đối với công trình thực nghiệm của hai người. Bố tôi làm giáo dục với nhiều chất mơ mộng của một người viết văn. Hồ Ngọc Đại chỉ độc làm có một công việc dạy học cho trẻ em. Tôi hay gọi ông là một nhà giáo dục “nguyên chất”. Cả hai đều vô cùng vất vả với nền giáo dục của đất nước. Họ đã làm rất nhiều, nói lên nhiều điều nhưng mà hình như người ta chẳng muốn nghe, thậm chí còn muốn phá. Sau khi dịch Dân chủ và giáo dục tôi đã viết nhiều bài và phát biểu cũng nhiều về John Dewey và bao giờ cũng liên hệ với Hồ Ngọc Đại. Hiện nay Hồ Ngọc Đại có vẻ như được “tái thừa nhận” nhưng quỹ thời gian của ông đã cạn, người thì thiếu. Vả chăng Hồ Ngọc Đại lúc này cũng không “kịp” có một bộ sách giáo khoa để mà tranh đấu một cách cụ thể.
Bố tôi sau một thời gian “nghỉ ngơi” thì năm 2009 ông thành lập nhóm Cánh Buồm và ngày 3.10 tới, nhóm của ông sẽ trình xã hội 16 đầu sách bậc tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5). Một nhóm gồm chục người, làm việc không có lương, chỉ trong hai năm mà làm được việc đó thì quả là một thành công không thể phủ nhận.
Cha và con cùng “nổi loạn” trong một nhà có khó sống không?
Chỉ là nổi loạn trong tư tưởng thôi. Đấu tranh là tự nhiên, không đấu tranh thì sao phát triển được. Ở đại học, chẳng hạn, người sinh viên phải được hoàn toàn tự do bày tỏ bất kỳ vấn đề gì… miễn là theo cách ôn hoà. Đừng xuống đường phá phách, đập phá cửa hiệu, đốt xe cộ… là được. Không nên cấm đoán, chặn hết các nẻo đường, thủ tiêu hết các phương tiện để tiến lên… Trong gia đình thì gia phong, truyền thống là cái nền, cái đà, nhưng người ta không sống mãi với cái đó. Tôi rất thích câu kết trong Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, rằng trẻ con nhiều khi cũng phải biết tha thứ cho người lớn.
Có bao giờ anh rơi vào cảm giác tuyệt vọng? Làm thế nào anh có thể vượt qua?
Tự do là khởi đầu của mọi sự, không tự do thì không có gì. Nếu một người không tìm được giá trị cho riêng mình thì không thể có tự do. Đọc sách, thưởng thức cuộc sống chính là cách để có tự do.
Có một dạo thời còn trẻ, tôi suýt tìm đến cái chết. Cảm giác này kéo dài khá lâu. Những người mẫn cảm, có thiên tư viết lách bao giờ cũng có một nỗi ám ảnh mà người bình thường gạt bỏ rất dễ. Tình yêu, cái chết là một nỗi ám ảnh với tôi, như một chất vải đã dệt nên mình, một cơ chế nào đó trong con người hành hạ mình, rất sợ hãi, cố làm cái khác cho quên đi. Tâm trạng đó kéo dài nhiều tiếng đồng hồ trong một ngày, ảnh hưởng đến sinh hoạt của mình. Lúc ấy, tôi thích ở một mình. Tự tìm thấy hạnh phúc một mình, tôi thích nghe nhạc cổ điển dù không hiểu hết. Tôi còn nhớ bố tôi đã từng bán cả cái giường duy nhất trong nhà, bán cả chiếc xe đạp đang đi để có tiền mua chiếc máy quay đĩa của Cộng hoà Dân chủ Đức. Hồi đó, ở Hà Nội máy quay đĩa rất hiếm, bố tôi còn thuê đóng thêm một cái thùng để đặt chiếc máy vào gọi là để “cộng hưởng”. Âm nhạc quả thật là một đời sống thứ hai, nó vào người nghe rất nhanh, có thể chữa trị, xua tan mọi buồn phiền mà không cần nhiều kiến thức.
Thực hiện: Kim Yến
chân dung hội hoạ: Hoàng Tường



Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

Mỗi tuần một chia sẻ: Bằng lòng với cuộc sống

Bằng Lòng Với Cuộc Sống


    Sau một thời gian cần cù và chắt chiu, một người đàn ông nọ đã trở thành người giàu có nhất trong ngôi làng nhỏ bé của mình.

    Từ lúc mua đươc một con lừa, anh ta mới có ý nghĩ làm một chuyến đi xa cho biết đó biết đây. Anh đến một ngôi làng khác lớn hơn ngôi làng của anh. Một ngôi nhà thật đẹp và sang trọng đập vào đôi mắt của anh. Sau khi dò hỏi, anh biết được đó là ngôi nhà của người giàu có nhất trong làng.

    Anh bèn trở về ngôi làng nhỏ bé của mình và quyết chí làm ăn, dành dụm để có thể may ra xây được một ngôi nhà đẹp hơn ngôi nhà mà anh vừa trông thấy ở ngôi làng bên cạnh. Không mấy chốc, tiền bạc dư dả, không những anh đã xây được một ngôi nhà sang trọng đẹp đẽ hơn mà còn mua được cả đàn ngựa và xe nữa.

    Lần này, anh vượt qua các ngôi làng nhỏ để đến một đô thị lớn. Tại đây, đâu đâu anh cũng thấy những ngôi nhà đẹp và ngôi nhà nào cũng đẹp hơn ngôi nhà của anh. Anh nghĩ bụng: cho dẫu có lao nhọc cả quãng đời còn lại, anh cũng không tài nào có thể xây được một ngôi nhà đẹp như thế.

    Anh bèn tiu nghỉu đánh xe quay lại ngôi làng cũ của mình. Nhưng rủi thay, xe gặp tai nạn, anh đành phải bỏ chiếc xe để leo lên lưng ngựa cố gắng chạy về ngôi làng cũ của mình. Nhưng dọc đường, vì mệt mỏi và đói lả, ngựa cũng lăn ra chết. Người đàn ông chỉ còn biết lủi thủi đi bộ về nhà.

    Ðêm đến, giữa sa mạc, anh nhìn thấy một ánh lửa bập bùng từ xa. Anh nấn ná tìm đến và khám phá ra túp lều của một vị ẩn sĩ. Vào trong túp lều, người đàn ông mới nhận ra rằng có lẽ trong đời anh, chưa bao giờ anh thấy có cảnh nghèo nàn cùng cực hơn.

    Anh ái ngại nhìn nhà tu hành rồi thắc mắc: "Thưa ông, làm sao ông có thể sống được trong cảnh cùng cực như thế này?".

    Nhà ẩn sĩ mỉm cười đáp: "Tôi bằng lòng với cuộc sống... Thế còn ông, xem chừng như ông không được thỏa mãn về cuộc sống của ông cho lắm". Người đàn ông ngạc nhiên hỏi: "Sao ông biết tôi không được thỏa mãn?". Nhà ẩn sĩ nhìn thẳng vào đôi mắt của người đối diện rồi thong thả nói: "Tôi nhìn thấy điều đó trong đôi mắt của ông. Ðôi mắt của ông cứ chạy theo giàu sang, nhưng sự giàu sang không bao giờ đến với ông... Ông hãy nhìn cảnh hoàng hôn. Ông có thấy những ánh sáng yếu ớt đang chiếu rọi trên cánh đồng không? Chúng tưởng mình đang soi sáng cả vũ trụ. Nhưng không mấy chốc, các ngôi sao mọc lên, và những tia sáng hoàng hôn biến mất. Những ánh sao tưởng chúng đang soi sáng cả bầu trời, nhưng khi mặt trăng vừa ló rạng, thì những ánh sao ấy cũng bắt đầu tắt ngụm. Vầng trăng sáng kia tưởng mình soi sáng cả trái đất, nhưng không mấy chốc, mặt trời mọc lên và mọi thứ ánh sáng của đêm đen đều biến mát. Nếu những thứ ánh sáng trên đây đều biết suy nghĩ về những điều ấy, thì có lẽ chúng sẽ tìm thấy nụ cười đã đánh mất".

    Nghe câu chuyện ví von của nhà hiền triết, người đàn ông mở miệng mỉm cười, nhưng nỗi buồn vẫn còn thoáng trên gương mặt ông.

    Vị ẩn sĩ tiếp tục câu chuyện: "Ông có biết rằng sánh với tôi, ông là vua không?". Người đàn ông tự nhiên so sánh căn nhà của mình với túp lều của vị ẩn sĩ. Nhưng đó không phải là điều mà vị ẩn sĩ muốn nói đến... Ông cầm chiếc đèn đưa lên cao và mời người đàn ông đến gần bên mình.

    Dưới ánh đèn, người đàn ông mới nhận ra rằng vị ẩn sĩ là người không còn ngay cả đôi chân để có thể di chuyển một cách bình thường.

Còn bạn, bạn thì sao....?!

    Trích sách Lẽ Sống


Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

 Hòn Ðá Ném Ði


    
    Văn hào Nga Leon Tonstoi có kể câu chuyện ngụ ngôn như sau: Có một người hành khất nọ đến trước cửa nhà của một người giàu có để xin bố thí. Một đồng xu nhỏ hay một miếng bánh vụn, đó là tất cả những gì người ăn xin chờ đợi nơi người giàu có. Nhưng, mặc cho người khốn khổ van xin, người giàu có vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Ðến một lúc không còn chịu nổi những lời van xin của người hành khất, thay vì bố thí, người giàu đã lấy đá ném vào con người khốn khổ.

    Người hành khất lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào bị rồi thì thầm trong miệng: "Ta mang hòn đá này cho đến ngày nhà người sa cơ thất thế. Ta sẽ dùng nó để ném trả lại ngươi".

    Ði đâu, người hành khất cũng mang theo hòn đá ấy. Tâm hồn ông lúc nào cũng cưu mang sự báo thù.

    Năm tháng qua đi. Lời chúc dữ của người hành khất đã thành sự thật. Vì biển lận, người giàu có bị tước đoạt tất cả tài sản và bị tống giam vào ngục. Ngày hôm đó, người hành khất chứng kiến cảnh người ta áp giải người giàu vào tù ngục. Nỗi căm hờn sôi sục trong lòng ông. Ông đi theo đoàn người áp tải. Tay ông không rời bỏ hòn đá mà người giàu đã ném vào người ông cách đây mười mấy năm. Ông muốn ném hòn đá đó vào người tù để rửa sạch mối nhục hằng đeo đẳng bên ông. Nhưng cuối cùng, nhìn thấy gương mặt tiều tụy đáng thương của kẻ đang bị cùm tay, người hành khất thả nhẹ hòn đá xuống đất rồi tự nhủ: "Tại sao ta lại phải mang nặng hòn đá này từ bao nhiêu năm qua? Con người này, giờ đây, cũng chỉ là một con người khốn khổ như ta".

    Tha thứ là điều khó khăn nhất nhưng cũng là điều cao cả nhất mà Kitô Giáo đã cống hiến cho con người.

    Trao ban tiền của, trao ban thì giờ, trao ban chính mạng sống mình là điều xem ra dễ làm hơn trao ban lòng tha thứ. Tha thứ là tuyệt đỉnh của yêu thương bởi vì tha thứ là yêu thương chính kẻ thù của mình. Của lễ hy sinh trên thập giá của Chúa Giêsu đã nên trọn khi Ngài thưa với Chúa Cha: "Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng lầm không biết việc chúng làm".

    Tha thứ là của lễ đẹp lòng Chúa nhất, bởi vì qua đó, con người được nên giống Thiên Chúa hơn cả. Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta là Thiên Chúa tha thứ và tha thứ không ngừng. Và chỉ có một Thiên Chúa tha thứ không ngừng ấy mới có thể đòi hỏi con người phải tha thứ không ngừng...

    Tha thứ là nét cao đẹp nhất của lòng người, bởi vì càng tha thứ, con người càng nên giống Thiên Chúa.


    Trích sách Lẽ Sống


Thứ Năm, 8 tháng 5, 2014

    Hồng Thập Tự (Chữ Thập Đỏ)

    
    Buổi sáng ngày 24/6/1859, Henri Dunant, một thương gia trẻ tuổi người thụy Sĩ, thức giấc với nhiều bận tâm. Từ mấy ngày nay, anh đang trọ tại một lữ quán nghèo thuộc miền Castiglione delle Stiviere bên Italia. Anh đến italia với một công tác rất táo bạo, đó là gặp cho kỳ được Hoàng Ðế Napoleon đệ tam của nước Pháp để xin cấp cho anh giấy phép được thiết lập một số nhà máy xay lúa tại Algerie, lúc bấy giờ đang là thuộc địa nước Pháp...

    Từ trong quán trọ nhìn ra, anh thấy từng đoàn binh sĩ Pháp di chuyển về cánh đồng Solferino... Và những gì phải xảy ra đã xảy ra... 300 ngàn con người từ hai phía đã giáp chiến. Tiếng súng nổ, tiếng người la hét giãy giụa. Khi màn đêm xuống, tiếng súng thưa dần, người ta chỉ còn nghe thấy tiêng rên la của các thương binh từ hai phía... Giờ phút này Henri Dunant không còn nghĩ gì đến dự án thiết lập các nhà máy xay lúa tại Algerie nữa. Thay vào đó, nỗi oán ghét chiến tranh và sự cảm thông với các thương binh mỗi lúc một xâm chiếm tâm hồn anh, nhất là khi người ta bắt đầu di chuyển các thương binh vào các làng mạc...

    Một người lính Pháp vừa lê lết vừa xin nước uống. Nguyên một bàn chân đãbị cắt đi khỏi thân thể. Dunant dìu anh vào quán trọ. Cùng với các y sĩ của các phe đang tham chiến, Henri Dunant đã động viên tất cả dân làng để mang thực phẩm và thuốc men đến cho các thương binh, bất kể họ thuộc bên nào.

    Trong những ngày ấy, thay cho dự án kinh doanh, Henri Dunant đã dành thời giờ đê viết lại hồi ký về trận Solferino. Anh mô tả lại tất cả những gì anh đã chứng kiến và kêu gọi tất cả những người thiện chí trên thế giới hãy giúp anh để chấm dứt thảm cảnh ấy. Không mấy chốc, cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được gửi đến các Chính Phủ trên thế giới. Ngay tức khắc, một tổ chức nhân đạo tại Génève đã thỏa thuận trợ giúp cho công tác của Dunant. Anh đi khắp các thủ đô Âu Châu để thuyết phục các nhà cầm quyền ký vào một quy ước nhìn nhận quyền bất khả xâm phạm của các thương binh, các y tá và tất cả những ai phục vụ trong ngành quân y...

    Ngày 26/10/1963, đại diện của 16 nước đãgặp nhau tại Génève. Tổ chức do Henri Dunant khai sinh được chính thức chào đời ngày hôm đó. Người ta gọi tổ chức này là Hồng Thập Tự, do biểu tượng của một chữ thập đỏ in trên nền trắng... Dấu hiệu này đã được treo trên các lều, các nhà cửa thuộc về phong trào này... Ðó là món quà lớn nhất mà Henri Dunant đã tặng cho nhân loại.

    Trong tập hồi ký trận Solferino, Henri Dunant đã ghi lại như sau: Có nhiều binh sĩ Áo dưới quyền chỉ huy của Hoàng Ðế Prancois Joseph bị bắt làm tù binh. Henri Dunant đã săn sóc họ tận tình. Thấy thế, một bà cụ già trong làng đã phản đối vì cho rằng người Áo là kẻ thù. Henri Dunant đã nói với bà cụ già như sau: "Trong sự đau khổ, không còn khác biệt giữa bạn và thù nữa.. Tất cả chúng ta đều là anh em với nhau".

    Nhìn mọi người như anh em của mình, một cái nhìn như thế hẳn phải xuất phát từ một niềm tin rất sâu sắc...

    Năm 1901, lần đầu tiên, giải thưởng Nobel hòa bình đã được trao tặng và người được danh dự ấy chính là vị sáng lập ra Hội Hồng Thập Tự. Mười năm sau, con người đã trao tặng cho thế giới một món quà cao quý như thế đã qua đời trong một bệnh viện dành cho những người hành khất nghèo nàn bên Thụy Sĩ. Gia tài của ông đểong lại là vài cuốn sách, năm ba lá thư và một di chúc thiêng liêng như sau: "Hoặc tôi là một môn đệ của Ðức Kitô giống như các tín hữu của những thế kỷ đầu hoặc tôi không là gì hết".

    Ðặc biệt của các tín hữu sơ khai và cũng là lý tưởng của Henri Dunant chính là lòng mến, lòng mến đã biến họ nhận ra mọi người như là anh em, con cùng một Cha trên Trời... Mỗi người Kitô chúng ta cũng có thể lập lại lời di chúc của vị sáng lập Hội Hồng Thập Tự: "Hoặc tôi tôn trọng và yêu thương tha nhân hoặc tôi không là gì hết".


    Trích sách Lẽ Sống


Thứ Tư, 23 tháng 4, 2014

Mỗi tuần một chia sẻ: Bữa ăn Thiên Đàng và Hỏa Ngục

Bữa Ăn Thiên Ðàng Và Hỏa Ngục
    


    Một ký giả kia được phép xuống hỏa ngục và lên thiên đàng để làm một bản phóng sự về đời sống của nhân dân tại đó.

    Sau một cuộc hành trình gay go, ký giả trên lọt được vào địa ngục đúng vào giờ ăn. Nhìn vào bàn ăn, anh ta không khỏi lấy làm lạ khi thấy trưng bày toàn sơn hào hải vị đang bốc khói hương ngào ngạt làm anh ta không khỏi nuốt nước bọt.

    Nhưng lúc các kiều dân địa ngục tiến vào phòng ăn, chàng ta lại càng ngạc nhiên hơn khi thấy họ ốm o gầy mòn, chỉ còn da bọc xương, vài người đi không muốn nổi. Sự kinh ngạc tan biến khi chàng phóng viên chứng kiến cảnh họ dùng bữa. Vì muỗng nĩa rất dài buộc dính vào đôi tay không cho phép họ đưa thức ăn vào miệng, nên dù họ có cố gắng thế nào đi nữa, thức ăn chỉ đổ tháo ra đầy bàn hay rơi tung tóe xuống mặt đất. Tệ hại hơn là cảnh họ tranh giành nhau: vài người dùng muỗng nĩa để thay vì đưa thức ăn vào miệng, lại biến chúng thành những khí giới đập đánh nhau. Thật là một bãi chiến trường. Khi chuông báo giờ ăn đã mãn, họ buồn phiền rời phòng ăn, dạ dày vẫn trống rỗng.

    Quá sợ hãi, chàng ký giả lập tức từ giã địa ngục để tiếp tục lên phóng sự trên thiên đàng. Ðến nơi cũng đúng vào giờ cơm. Bàn ăn cũng trưng bày những thức ăn ngon miệng. Quan sát nhân dân, chàng ta thấy ai nấy đều phương phi, khỏe mạnh, tuy đôi tay họ cũng được gắn chặt những muỗng nĩa rất dài. Có khác là thay vì họ cố gắng đưa thức ăn vào miệng mình, họ lại dùng muỗng nĩa để đút thức ăn cho nhau. Phòng ăn vang lên những giọng nói cười vui, thỏa mãn.


    Kết thúc bài phóng sự tường trình về những điều mắt thấy tai nghe, chàng ký giả viết: Ích kỷ và vị tha là hai điểm khác biệt giữa địa ngục và thiên đàng.
...
Trích sách Lẽ Sống

Thứ Hai, 17 tháng 3, 2014

Mỗi tuần một chia sẻ: Chia sẻ ánh sáng

Chia Sẻ Ánh Sáng



Ngày xưa có một người cha có ba đứa con trai. Ông vốn sinh ra nghèo khổ, nhưng nhờ chuyên cần làm việc và cần kiệm, nên ông trở nên một điền chủ giàu có. Lúc về già, gần đất xa trời, ông nghĩ tới chuyện chia gia tài cho các con. Nhưng ông cũng muốn xem đứa con nào thông minh nhất để phó thác phần lớn gia sản của ông cho nó. Ông liền gọi ba đứa con đến giường bệnh, trao cho mỗi đứa năm đồng bạc và bảo mỗi đứa hãy mua cái gì có thể lấp đầy căn phòng trơ trọi mà ông đang ở.

Ba đứa con vâng lời cha cầm tiền ra phố. Người anh cả nghĩ rằng đây chỉ là một công việc dễ dàng. Anh ta ra tới chợ mua ngay một bó rơm rất lớn mang ngay về nhà. Người con thứ hai suy nghĩ kỹ lưỡng hơn: sau khi đi rảo quanh chợ một vòng, anh ta quyết định mua những bao lông vịt rất đẹp mắt. 

Còn người con trai thứ ba, suy nghĩ đi, suy nghĩ lại: làm sao mua được cái gì với năm đồng bạc này, để có thể lấp đầy căn phòng lớn của cha mình. Sau nhiều giờ đắn đo, bỗng mắt chàng thanh niên hớn hở, anh ta lại căn tiệm nhỏ mất hút trong đường nhỏ gần chợ, anh ta mua cây đèn cầy và một hộp diêm. Trở về nhà, anh hồi hộp, không biết hai anh mình đã mua được cái gì.

Ngày hôm sau, cả ba người con trai đều họp lại trong phòng của cha già. Mỗi người mang quà tặng của mình cho cha: Người con cả mang rơm trải trên nền nhà của căn phòng, nhưng phòng quá lớn, rơm chỉ phủ được một góc nền nhà. Người con thứ hai mang lông vịt ra, nhưng cũng chỉ phủ được hai góc của căn phòng. Người cha cóvẻ thất vọng. Bấy giờ người con trai út mới đứng ra giữa phòng, trong tay chẳng mang gì cả. hai người em tò mò chăm chú nhìn em, và hỏi: "Mày không mua cái gì sao?". Bấy giờ đứa em mới từ từ rút trong túi quần ra một cây nến và hộp diêm. Thoáng một cái, căn phòng đầy ánh sáng. Mọi người đều mỉm cười. Người cha già rất sung sướng vì quà tặng của đứa con út. Ông quyết định giao phần lớn ruộng đất và gia sản của mình cho con trai út, vì ông thấy anh ta đủ thông minh để quản trị gia sản của mình và nhờ đó cũng có thể giúp đỡ các anh của nó nữa.

Ðứng trước khó khăn thử thách, để kêu gọi sự bình tĩnh sáng suốt và tinh thần hợp tác, người ta thường nói với nhau: thà đốt lên một ngọn nến hơn là ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối.

Cuộc sống của mỗi người chúng ta, cuộc sống của những người xung quanh chúng ta, cuộc sống của xã hội chúng ta có lẽ cũng giống như một căn phòng đen tối... Chỉ cần một người đốt lên một chút ánh sáng, những người xung quanh sẽ cảm thấy ấm cúng và phấn khởi.

Một chút ánh sáng của một cái mỉm cười. Một chút ánh sáng của một lời chào hỏi. Một chút ánh sáng của một san sẻ. Một chút ánh sáng của tha thứ. Và một chút ánh sáng của niềm tin được chiếu tỏa qua sự vui vẻ chấp nhận cuộc sống... Một chút ánh sáng ấy cũng đủ để nâng đỡ ít nhất là một người mà chúng ta gặp gỡ, bởi vì không có một nghĩa cử nào được thực thi mà không ảnh hưởng đến người khác...

Trích sách Lẽ Sống