Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

Trông cậy gì ở tương lai khi người lớn “Tam bất” như thế?

(Xuân Dương - GDVN) -Cho rằng “Trông cậy gì ở tương lai khi thế hệ trẻ dã man như thế” là vội vàng? hãy đặt vấn đề ngược lại “Trông cậy gì ở tương lai khi người lớn Tam bất như thế"


Sự việc một nhóm học sinh trường PTCS Lý Tự Trọng, Trà Vinh cậy đông đánh bạn ngay trong phòng học đã được phân tích dưới nhiều góc độ. Câu hỏi cần đặt ra sau vụ việc không phải chỉ với nhóm học sinh hư hỗn này mà còn với người lớn, từ các bậc phụ huynh đến những quan chức ngành Giáo dục tỉnh Trà Vinh và những cấp cao hơn, tất nhiên không loại trừ cả các cơ quan chức năng có trách nhiệm liên đới.
Về phía phụ huynh, sự quan tâm đến sức khỏe và việc học tập của con cái luôn là ưu tiên hàng đầu vậy mà sau hai tháng con gái kêu đau, mệt cha mẹ vẫn không tìm hiểu nguyên nhân, thiếu sót này tuy đáng trách nhưng có thể thông cảm. Ở miền quê, vùng sâu, vùng xa ít bậc cha mẹ có đủ thời gian và kiến thức trong việc chăm sóc, dạy dỗ con cái, mọi sự gần như phó mặc nhà trường và xã hội. 
Lo cho gia đình đủ ăn, đủ mặc luôn là nỗi lo thường trực với phần lớn gia đình nông dân, công nhân kể cả một số viên chức, giáo viên…, thời gian dành cho con cái chỉ vẻn vẹn một hai tiếng buổi tối trong trạng thái mệt mỏi sau một ngày lao động. Hậu quả tất yếu được thể hiện qua lời thừa nhận của người cha: “Tôi là một người cha thất bại”.
Liệu thực sự đó chỉ là thất bại của người cha, của gia đình hay là thất bại của một nền giáo dục, của cả nền văn hóa?
Có tác giả viết:  “Trông cậy gì ở tương lai khi thế hệ trẻ dã man như thế?”. Có người tỏ ra sửng sốt, thậm chí còn khóc trước chuyện trẻ con đánh nhau? Điều cần làm không phải là khóc mà là dành thời gian tìm hiểu điều gì đang tác động đến tâm lý trẻ thơ, phải chăng những học sinh đánh bạn sinh ra đã mang sẵn gen bạo lực?
Hãy thử tìm hiểu xem món ăn tinh thần hàng ngày của người Việt, cả người lớn lẫn trẻ con là gì? Từ báo giấy đến báo mạng, từ tivi đến băng đĩa chỗ nào cũng thấy “cướp, hiếp, sốc, sex”. Trên trang chủ một báo điện tử, gõ từ khóa tìm kiếm “cậu nhỏ”  nhận được 125 kết quả,  nghĩa là ít nhất báo này đã có khoảng trăm bài viết chỉ về  đề tài “cậu nhỏ”!
Ảnh chụp màn hình ngày 16/3/2015
Người đọc nhận thức yếu, đặc biệt là lớp trẻ, tiếp xúc liên tục với “cướp, hiếp, cậu nhỏ” như thế không làm theo mới là chuyện lạ. Hành động yêng hùng của trẻ con bắt nguồn từ chính những bộ phim siêu nhân hàng ngày trình chiếu trên truyền hình, từ những hành động của người lớn mà trẻ con  có thể nhìn tận mắt.
Làm đến Phó Giám đốc sở mà vẫn “uỵch” nhau ngoài quán (Bình Phước), là chiến sĩ công an mà “choảng” nhau ngoài đường (Hưng Yên), là Phó ban Tổ chức Quận ủy mà bị truy tố về tội tổ chức giết người (Cầu Giấy-Hà Nội), làm trái luật nhưng cấp dưới (Thanh tra Hà Tĩnh) vẫn lớn tiếng tố cáo cấp trên (Thanh tra Chính phủ) là “áp đặt, máy móc, không thấu tình đạt lý”… thì chuyện trẻ con kéo bè đánh bạn liệu có nên coi là hiện tượng quá đặc biệt?
Phê phán, phẫn nộ, lý giải  hay lắc đầu trước chuyện trẻ con kéo bè kéo cánh đánh bạn là cách xử sự của từng người nhưng trả lời câu hỏi “tại sao chúng lại đánh bạn” thì chắc chắn trước hết phải thuộc về những người và cơ quan có trách nhiệm.
Vậy những ai là người có trách nhiệm?
Trong phạm vi nhỏ như trường PTCS Lý Tự Trọng đó là giáo viên chủ nhiệm, Ban Giám hiệu nhà trường, tổ chức đoàn, đội và chi bộ Đảng. Để cho những người này ngồi xem xét kỷ luật học sinh liệu có hợp lý khi chính họ cũng là người có lỗi, chính họ là người phải bị kỷ luật trước hết.
Không thể có bất kỳ biện minh nào cho sự thiếu trách nhiệm của những cá nhân liên quan đến vụ viêc tại trường này. Trước khi nghĩ đến chuyện đuổi học trẻ con hãy nghĩ đến chuyện đưa họ ra khỏi ngành, để họ tại vị nghĩa là bắt buộc phụ huynh và học trò vẫn phải gọi họ là thầy cô trong khi họ không xứng đáng được tôn trọng như vậy. 
Nên nhớ sự thiếu trách nhiệm của một số cá nhân tại trường Lý Tự Trọng, Trà Vinh không chỉ khiến một học sinh bị đánh đập dã man mà còn tiềm ẩn nguy cơ nhiều học sinh khác cũng có thể bị xâm phạm thân thể tương tự.
Một bài báo nhắc đến chuyện “Tiên học lễ, hậu học văn”, tác giả đã liên tưởng vấn đề bạo lực học đường với chuyện dạy thêm, học thêm và cho rằng nếu không chú ý đến “dạy và học làm người” thì thật đáng lo ngại.
Chợt nhớ mấy chục năm trước, khi một nhà giáo đáng kính mà con cái gần như toàn là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đặt vấn đề “Tiên học lễ, hậu học văn” thì chính trên tờ báo (giấy) này đã có bài đả kích kịch liệt, rằng đó là quan điểm cổ hủ, muốn kéo đất nước quay lại thời phong kiến…
Ở tầm cao hơn, đó là các cơ quan quản lý văn hóa, giáo dục, an ninh… Một câu hỏi không khó trả lời nhưng chưa bao giờ được trả lời là vì sao những vấn đề “nhạy cảm” mang tính phản biện xã hội được quản lý rất chặt chẽ còn những phim ảnh, tin, bài cướp, hiếp, đâm chém thì thoải mái đăng tải? Phải chăng việc cấm, hay chí ít là hạn chế tối đa các ấn phẩm độc hại ấy vi phạm quyền tự do báo chí hay còn là vì bát cơm manh áo của người ta nên chưa thể?
Đặt chuyện trẻ con đánh bạn trong bối cảnh đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng để thấy đó chỉ là một vài nét chấm phá trong bức tranh tổng thể. 
Một bài viết của PGS. TS Đoàn Thế Hanh trên Tạp chỉ Cộng sản có đoạn: “những yếu kém trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Ai cũng thấy rõ tình trạng yếu kém trong quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội ở nước ta hiện nay đều do năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ; do tình trạng pháp luật chưa đủ, chất lượng chưa cao, thi hành chưa nghiêm ở cả người duy trì và người chấp hành pháp luật”. [1]
Tình trạng mà bài báo nêu lên có thể gói gọn trong cụm từ “tam bất”: bất tri, bất lực, bất tâm.
“Bất tri” là nói về một số người thuộc vào đội ngũ được gọi là “nguyên khí quốc gia”, một đội ngũ được xem là rất hùng hậu về số lượng, thuộc diện đứng đầu Đông Nam Á nhưng thành tựu thì thuộc hàng áp chót. Sự nguy hiểm không chỉ ở chỗ không ít người chen ngang vào hàng ngũ trí thức với hành trang là quyền lực và sự giàu có mà còn ở chỗ họ nắm quyền chỉ bảo người khác.
Một “quan tiến sĩ” chuyên nghiên cứu về văn hóa Thủ đô biện luận, rằng cướp ở lễ hội Gióng (Sóc Sơn-Hà Nội) là “cướp có văn hóa”, “cướp” ấy xuất phát từ truyền thống lễ hội địa phương. Lập luận này khiến người ta phải đặt câu hỏi, rằng nếu ai đó hay ở đâu đó đã có “truyền thống nói dối”, thì việc tiếp tục công khai nói dối có phải cũng là hành động “nói dối có văn hóa”?
Nếu quả như thế thì trong kho tàng ngôn ngữ Việt sẽ xuất hiện hàng loạt cụm từ mới như “tham nhũng có văn hóa”, “ích kỷ có văn hóa”,  “kèn cựa có văn hóa”, “vô nguyên tắc có văn hóa”…, bởi vì  cái “bộ phận không nhỏ” (được đề cập trong Nghị quyết 12 Hội nghị TƯ4 khóa XI) vốn có truyền thống là “…ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...” [2]. Trí thức hùng biện được như thế chắc hẳn cũng phải là phải là “trí thức có văn hóa”!
“Bất lực” với mỗi cá nhân là khả năng đề kháng kém trước bệnh tật, trước các thói hư tật xấu ngoài xã hội, ở tầm cao hơn là khả năng bảo vệ và thực thi pháp luật. Như bài báo nêu trên, tình trạng yếu kém trong quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội “đều do năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ; do tình trạng pháp luật chưa đủ, chất lượng chưa cao, thi hành chưa nghiêm…”. Một khi luật vừa “chưa đủ” vừa “chất lượng chưa cao” lại kèm theo “thi hành chưa nghiêm” thì luật pháp mất đi khả năng răn đe, nó dễ làm cho người vi phạm nhờn luật.
Làm đến Phó Giám đốc sở, cỡ “tứ thập nhi bất hoặc” mà còn cầm cốc bia choảng vào đầu Phó giám đốc cỡ “ngũ thập tri thiên mệnh” thì riêng chuyện làm “người lớn” đã không xứng đáng chứ đừng nói là làm lãnh đạo cấp sở. Không biết hành động của hai vị Phó giám đốc nọ có ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến uy tín đội ngũ cán bộ tỉnh Bình Phước hay không mà một chỉ bị giáng chức, người kia chỉ bị cảnh cáo?
Lái xe chỉ cần độ cồn trong máu vượt ngưỡng là có thể tịch thu bằng lái, nghiêm trọng đến mức gây tai nạn vỡ đầu chảy máu có thể bị tịch thu phương tiện - Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định như vậy. Tại sao tỉnh Trà Vinh không dám tịch thu “Thẻ công chức” của hai vị công chức nọ cho họ về quê, hay là vì Trà Vinh không đủ người tài để cử làm Phó giám đốc sở?
“Bất tâm” là nói về tâm đức con người. Báo chí nói mãi, Chủ tịch nước hỏi về “bộ phận không nhỏ” nó lẩn trốn ở đâu? Thế nhưng tìm thấy rồi chỉ phê bình, cảnh cáo, hạ chức vụ hay quân hàm và vẫn để họ tiếp tục là thành viên của “bộ phận không nhỏ”! Vậy thì tìm thấy phỏng có ích gì? Cái “bộ phận không nhỏ” mà ai cũng nghi là “nằm ở đâu” ấy thì ít thấy được chỉ ra cụ thể, phải chăng vì thế mà nó vẫn “mãi chưa nhỏ”.

Rơi nước mắt đi tìm “Bộ phận không nhỏ”

(GDVN) - Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng: Có một bộ phận mà Đảng nói là không nhỏ bây giờ không biết nằm ở đâu. Dân hỏi mãi,Đảng hỏi mãi nhưng không trả lời đượ
Mấy đứa trẻ con đang tuổi cắp sách ở Hải Phòng giằng mũ nón trêu chọc nữ sinh, lập tức tòa án được mở và thế là có đứa trẻ bị xử tù tới 36 tháng. Viện Kiểm sát, Tòa án Tiên Lãng bảo đấy là ăn cướp, đấy là hành vi gây nguy hiểm đến tính mạng người khác. 
Còn chuyện ông Bí thư huyện ủy Thạch Thành giằng cả “đàn dê xóa đói” của dân miền núi, mấy ông Chủ tịch, Bí thư xã Quế An-Quảng Nam giằng cả “đàn gà giảm nghèo” của dân quê thì sao? Sao chẳng thấy “người lớn” nào bị tù vì cái tội gấp mấy chục lần trẻ con? Chẳng lẽ chuyện “ăn bẩn” của những công chức  ấy không phải là hành vi nguy hiểm đến an ninh chính trị, đến sự tồn vong của chế độ? Liệu có ai không cảm thấy xót xa cho mấy đứa trẻ bị kết án tù khi biết mấy “đứa người lớn” nêu trên vẫn ung dung tại vị?
Không phải là không có các loại thuốc đặc trị mạnh hơn “liệu pháp vuốt ve”, đơn thuốc thì các “thầy thuốc nhân dân” đã kê sẵn nhưng vì sao việc buộc các “bệnh nhân không nhỏ” uống thuốc lại bất khả thi. Trong chuyện này bất lực thì ít mà bất tâm thì nhiều.
Hai vị Phó giám đốc sở ở Bình Phước đánh nhau ngoài quán. Ảnh minh họa của Thời báo Đông Nam Á
Trở lại chuyện mấy đứa trẻ đánh bạn ở Trà Vinh, đuổi học là một sự thất bại của giáo dục, đúng là như vậy. Nhưng đánh người gây thương tích, dù là vị thành niên cũng là phạm luật và cần phải bị trừng trị nghiêm khắc. Cách tốt nhất là đưa những đứa trẻ này vào trại giáo dưỡng một thời gian sao cho chúng cảm nhận được hành vi đánh người là một tội lỗi.
Những ý kiến cho rằng học sinh lớp 7 đang còn là vị thành niên, đang trong thời gian phát triển tâm sinh lý nên cần thông cảm, điều này không sai song không nên quên rằng ngôi trường mang tên người thiếu niên anh hùng Lý Tự Trọng chẳng lẽ không khiến cho mấy học sinh này cảm nhận được điều gì? 
Chẳng lẽ nhà trường không bao giờ dạy cho học sinh biết Lý Tự Trọng hy sinh vì tổ quốc khi bao nhiêu tuổi? Không được giáo dục nghiêm khắc, đứa bé yêng hùng sẽ rất dễ trở thành “đứa lớn bất hảo”, điều này là một thực tế mà bất kỳ ai có tâm xin đừng cố ngụy biện.
Các loại tội phạm tại Singapore ngoài hình thức phạt tiền, phạt tù còn hình thức đánh bằng roi, chiếc roi được tẩm hóa chất làm tăng độ xót của vết đánh khiến kẻ bị phạt ghi nhớ suốt đời. Còn chúng ta, “liệu pháp vuốt ve” như “nghiêm túc rút kinh nghiệm” hay “nghiêm túc viết kiểm điểm” có làm cho tội phạm sợ hãi? Không dám dùng roi phải chăng vì người ta sợ hết nhiệm kỳ chiếc roi sẽ chuyển sang tay người khác?
Than thở rằng “Trông cậy gì ở tương lai khi thế hệ trẻ dã man như thế” có lẽ là hơi vội vàng, hãy đặt vấn đề ngược lại “Trông cậy gì ở tương lai khi người lớn “Tam bất” như thế” mới là cách nghĩ của người lớn./.
Tài liệu tham khảo:
(trích báo Giáo dục Việt Nam)

Những con gà… u mê, những con dê… lầm đường, lạc lối!

(Dân trí) - Có lẽ cách “thoát hiểm” khả thi nhất hiện nay là các bác ấy cứ đổ hết cho… lũ gà. Rằng tự nó đến, tự nó vào chuồng, tự nó ăn uống, tự nó lớn lên, tự nó lao vào nồi, tự nó bước lên mâm... Chao ôi, chỉ tại những con gà… u mê và những con dê… lú lẫn!
 >>   Vụ “gà đi lạc”: Phó Thủ tướng yêu cầu Quảng Nam kiểm tra sự việc
 >>   Gà cấp cho người nghèo “chạy” vào nhà Bí thư, Chủ tịch xã
 >> Những con dê… “lầm đường, lạc lối”!

(Minh họa: Ngọc Diệp)
(Minh họa: Ngọc Diệp)
“Báo Dân trí ngày 11 tháng 3 năm 2015 có đăng bài phản ánh liên quan đến việc mua gà cho người nghèo trong chương trình hỗ trợ “Nông thôn mới” không đúng đối tượng. Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam kiểm tra cụ thể sự việc báo nêu. Nếu sự việc đúng như báo nêu, có biện pháp xử lý đối với sai phạm, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30 tháng 3 năm 2015”.
Đó là nội dung Công văn 1750 của Văn phòng Chính phủ gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.
Lý do là ngày 11/3, Báo Dân trí có bài viết “Gà cấp cho người nghèo chạy vào nhà Bí thư, Chủ tịch xã”, phản ánh việc 1.250 con gà được huyện Quế Sơn hỗ trợ người dân nghèo trong xã nuôi nhưng lại được cấp phát cho lãnh đạo xã Quế An, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, trong đó có cả Bí thư và Chủ tịch xã.
Dạo này chẳng hiểu sao lũ gia súc, gia cầm hay “lỡ bước sang ngang” thế không biết?
Vừa mấy tháng trước, 12 con dê được cấp cho bà con nghèo xã Thành Yên đáng lẽ thẳng tiến về nhà dân nghèo thì lại “lỡ bước sang ngang” vào nhà ông Bí thư Huyện ủy Thạch Thành Đỗ Minh Quý.
Khi đọc những thông tin trên, nhiều bạn đọc Dân trí “bắt bệnh” rằng nó về trang trại của vị bí thư là đúng bởi dê thời nay khôn như… chim cò, vốn “Đất thơm cò đậu”. Mà trang trại của ông Bí thư thì hẳn là “thơm” hơn cái chuồng trâu, chuồng bò nhà dân nghèo là cái chắc.
Còn bác Bí thư Quý thì giải thích rằng bác ấy nghĩ đó là dê được phân bổ từ dự án của Bộ Khoa học công nghệ về phát triển chăn nuôi giúp đồng bào huyện miền núi thoát nghèo chứ… không biết đó là dê hỗ trợ của thị xã Bỉm Sơn. Tc là có cái sự “nhầm nhọt” ở đây.
Lần này, lũ gà đã về được đến xã, cứ tưởng là đã an toàn “an tọa” đúng địa chỉ thì hỡi ôi, chẳng hiểu “mê lú” thế nào mà chúng lại rủ nhau “lạc” vào nhà “quan xã”.
Lý do thì chưa được các bác lãnh đạo xã Quế An giải thích nên không biết có sự “nhầm nhọt” nào hay không? Còn trong dư luận, có người cho rằng đó là những “con gà u mê” bởi về nhà dân, tuy đói ăn một tý nhưng thời gian “hưởng dương” dài hơn. Lý do là bởi đói ăn nên chậm lớn mà chậm lớn thì chậm… lên thớt.
Còn về nhà “quan”, thừa ăn nên mau lớn mà mau lớn thì mau “đi”. Vả lại, nhà “quan xã” thường là khách khứa liên miên, ăn nhậu tá lả nên càng nhanh “từ giã cõi đời”.
Khổ nỗi, thịt gà thì ngon nhưng lại lắm xương mà các cụ ta ngày xưa đã có câu “Hóc xương gà, sa cành khế”, tức là dễ nguy đến “tính mạng” lắm.
Không biết rồi đây, các vị lãnh đạo xã Quế An sẽ giải trình với Chính phủ như thế nào nhỉ? “Hóc” đấy!
Chả lẽ lặp lại bài ca “cứ tưởng”?
Có lẽ cách “thoát hiểm” khả thi nhất hiện nay là các bác ấy cứ đổ hết cho… lũ gà. Rằng tự nó đến, tự nó vào chuồng, tự nó ăn uống, tự nó lớn lên, tự nó lao vào nồi, tự nó bước lên mâm...
Chao ôi, chỉ tại những con gà… u mê và những con dê… lú lẫn!
Chợt nhớ câu nói đến não lòng của Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan: Người ta ăn của dân không từ một thứ gì!

Bùi Hoàng Tám
(trích báo Dân trí)

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

Mùa xuân lặng im trong đôi guốc

Tác giả: 
 Lm Nguyễn Tầm Thường
Con cái đã quên, không còn ai nhớ đến đôi guốc mộc. Sau đám tang của mẹ, mấy người con gom quần áo của bà đốt hết. Riêng đôi guốc gỗ nằm nơi xó tường nên chả người con nào để ý. Mấy tháng, kể từ ngày bà nằm trên giường bệnh, đôi guốc lúc bị đá vào xó tường này, lúc bị đẩy sang góc tối kia, đến độ người nhà không còn để ý nó là đôi guốc của ai.

Từ ngày theo người mẹ đó về nhà, đôi guốc giã từ những tháng ngày thong thả, mơ mộng trên quầy hàng.

* * *

Thủa xưa, khách vào ra, ngắm nghía, nâng niu, chủ hàng chẳng bao giờ để đôi guốc bám bụi. Ðôi guốc chả phải làm gì, sống như thế thật nhàn hạ. Nhưng nếu nghĩ cho cùng, cũng không thiếu nhàm chán, chả có gì mới mẻ trong cuộc sống cả. Ðôi lúc, đôi guốc nghe như có hai tiếng nói thì thầm trong hồn nó. Một là bảo nó cứ nằm yên ở đây cho nhàn hạ, hai là bảo nó hãy bỏ đây xuống đời tìm cho cuộc sống một ý nghĩa.

- Chả nhẽ cứ tiếp tục là đôi guốc nằm trên quầy hàng như thế này mãi sao?


Nó không phải là đồ trang sức, không phải là bức tranh cho người ta ngắm. Có nhàn hạ, nhưng nằm mãi ở đây thế này nó bắt đầu thấy chán, càng ngày càng thấm thía những suy nghĩ về một cõi sống trên những nẻo đường của cuộc đời. Nhưng mỗi khi nhìn đôi guốc dưới chân các bà mẹ, nó lại nghe tiếng nói khác thì thầm: “Vất vả quá!” Có đôi guốc sứt mẻ. Có đôi guốc mòn xác xơ. Ðiều đó làm nó nghĩ ngợi.


Ðời là một chọn lựa. Cứ tiếp tục suốt đời giam mình ở đây hay bước xuống đường để ra đi đây đó? Sau cùng nó quyết định ra đi.

Một trưa xế nắng kia, có người thiếu phụ vào tìm mua đôi guốc. Chủ hàng đem nó ra giới thiệu. Nhìn dáng người thiếu phụ, đôi guốc biết người đàn bà ấy thật thà, nhưng thấy dáng bà có vẻ nghèo. Những người nghèo thường vất vả. Bước chân của người nghèo là bước chân khổ. Làm thân guốc cho một người nghèo vất vả lắm. Thật thà mà nghèo chắc cũng chả hạnh phúc. Cuộc sống bây giờ chẳng ai quý người nghèo. Càng suy nghĩ, đôi guốc càng lưỡng lự, cứ sợ người đàn bà ấy chọn mua mình.

Nó phân vân không biết có nên theo chân bà ta hay không. Ðời luôn là phải chọn lựa như thế. Vất vả, nghèo mà thật thà, đặc tính của người muốn mua nó có vậy thôi. Ðôi guốc nghĩ thầm: “Ðến lúc muốn ra đi, lại gặp phải người đàn bà nghèo thế này. Hay ta chờ một người đàn bà khác giàu có. Theo chân người giàu sẽ sung sướng hơn?”

Trong lúc nó phân vân, người đàn bà cầm đôi guốc ngắm nghía, cho xuống chân ướm thử. Một làn hương thơm huyền nhiệm toát ra từ đôi chân bụi đường. Ðôi guốc vô cùng kinh ngạc, làm sao điều ấy có thể xảy ra được. Nó đã được nhiều đôi chân đẹp ướm thử mà chưa bao giờ có hiện tượng lạ lùng như thế. Phải là đôi chân dịu dàng mới toát ra vị thanh tao được chứ. Ðôi chân trần của người đàn bà nhà quê mốc thếch. Làm sao đôi chân lấm lem lại có thể toát ra một hương nhân đức kỳ bí được. Nó không ngờ. Ðiều huyền diệu ấy, tiếng lương tâm đôi guốc bảo cho nó biết rõ là đến từ lòng thật thà, bao dung, vất vả hy sinh của người mẹ kia. Bấy giờ, nó hối hận vì quá vội nghi ngờ đánh giá khi nhìn sự nghèo khó bên ngoài. Lòng hối hận ấy làm nó bừng lên một ước ao mãnh liệt là được theo chân bà. Linh tính cho nó biết nơi dấu chân người mẹ này có một thế giới huyền diệu. Nhưng người mẹ băn khoăn đặt nó vào kệ gỗ vì bà không đủ tiền.

Ðôi guốc gỗ mím môi tiếc xót vì từng bị thử dưới bao đôi chân, chưa thấy bước chân nào kỳ lạ như bước chân của người mẹ này. Giữa lúc nó muốn theo chân người đàn bà để khám phá thế giới linh thiêng kỳ bí đó, bà lại không đủ tiền mua nó. Bà tần ngần đặt đôi guốc lại kệ gỗ.

Người chủ hàng chỉ bán rẻ những đôi guốc bị nứt thôi. Ðôi guốc nghĩ thầm: “Hay là ta đánh đổi đời mình thành đôi guốc nứt?” Nếy vậy, còn gì dáng vẻ, vì cả một đời sẽ mang dấu vết nứt đó. Ðôi guốc suy nghĩ quay quắt về một chuyến đi trong đời.

Người đàn bà lại cầm nó trên tay, tiếc vì không đủ tiền. Ðôi guốc giật mình nghĩ rằng đời không có nhiều cơ hội. Nếu bà không đủ tiền mua nó, bao giờ bà sẽ quay lại? Có thể sẽ không bao giờ. Nếu bà đặt nó trở lại quày hàng, biết đâu nó sẽ vĩnh viễn không bao giờ gặp lại bà? Nó lấy hết can đảm theo tiếng gọi thâm sâu của linh hồn, chấp nhận một thương đau cho khởi đầu một chân trời kỳ bí kia đang chờ đón. Nó quyết định chấp nhận đời mình thành đôi guốc nứt. Tức khắc, ngay khi quết định xong, nó nghe như trong linh thiêng có một trận chiến vô hình. Tiếng nói của Bóng Tối gục xuống. Tiếng nói của Ánh Sáng bừng lên. Cũng trong lúc ấy, như chiều cao thập giá đổ xuống, một vết thương xước ra, chạy dài toàn thân. Nó ngất lịm. Thế là nó thành một đôi guốc nứt.

Người đàn bà giơ lên nhìn kỹ. Bà ồ lên một tiếng thở nhẹ, vui mừng vì một khám phá:

- Ông chủ tiệm ơi, nhìn kỹ đi, đôi guốc có vết nứt đây này.


Người chủ tiệm tiếc rẻ. Ngần ngừ, ông đành bán tống nó đi.


Lúc tỉnh dậy, đôi guốc đã về đến nhà người đàn bà. Bà xoa xoa vết nứt, tìm mũi đinh đóng lại. Một lần nữa, nó đau buốt thân mình. Nhưng trong mỗi nhát búa, nó thấy mùa xuân đang về trên những nhánh gai. Nó bắt đầu cảm thấy ý nghĩa của nước mắt và hạnh phúc. “Tôi sẽ theo chân bà ta đi đâu bây giờ?” Trời đang vào hạ hanh nắng hay cúc vàng nhuộm xuân. Nó hồi hộp tự hỏi.


Ngày hôm sau, ngay chuyến đi đầu tiên nó đã mệt rã rời. Trời xuống tối, bà vẫn chưa về đến nhà. Quẩy gánh nặng trên vai. Con đường cứ dài thăm thẳm, toàn thân mình đau ê ẩm. Ðường đất miền quê sỏi đá gồ ghề, ngay chân bà cũng trượt té trầy da huống chi đôi guốc. Nó bị nện xuống gập ghềnh. Như vậy mà đã từ bao lâu nay người mẹ này cứ bước chân không, nghĩ đến nỗi đau, nó thấy xót xa cho bà. Nhìn xuống nỗi đau của mình, nó muốn chia sẻ với bà nỗi đau kia. Lạ lùng quá, khi mới chợt có ý nghĩ ấy, nó thấy toàn thân nóng bừng, và trên nỗi đau nó thấy ý nghĩa ngọt ngào của hy sinh.

Qua một buổi chiều mà đôi guốc đã khám phá bao nhiêu bí mật đời sống dưới bàn chân một người mẹ:
- Hy sinh bao giờ cũng có hương thơm có thể bay ngược chiều gió.
- Chịu đựng bao giờ cũng cho tâm hồn nét đẹp cao thượng.
- Gánh nặng vì tình yêu luôn luôn đi đôi với sức mạnh.
- Thật thà là mật ngọt nuôi dưỡng bình an.
- Nhẫn nại là những đường may nối dài tình thương.


Quá mệt, đôi guốc ngủ thiêm thiếp lúc nào không hay. Lúc ướt lạnh, nó co người rùng mình thì người mẹ đã đang ở bờ giếng kéo nước đổ vào nồi cám nấu cho heo. Ðôi guốc bàng hoàng không biết trời đang vào khuya hay đã về sáng. Chung quanh chỉ là đêm tối lần mò. Nó lắng nghe bước chân. Người mẹ hết quanh quẩn trong góc bếp lại ra cầu ao. Khuya thế này rồi sao bà không nghỉ ngơi? Ðôi guốc mệt đừ.
* * *
Thời gian thấm thoát thoi đưa. Thoát chốc đã đến ngày đôi guốc mòn quá rồi. Bây giờ nó không còn là hình dạng đôi guốc ngày xưa trong cửa hàng nữa. Xấu xí, lem luốc, nứt nẻ. Nhìn lại quãng đời, đôi guốc không thể biết được nó đã bước bao nhiêu đường dài. Nếu mỗi ngày bà mẹ quẩy gánh 10 cây số, thì 365 ngày một năm, đã trên 3 ngàn cây số rồi. Trời ơi! Ðôi guốc không ngờ nó đã đồng hành với bà trên một dặm đường dài hơn cả đất nước của người đàn bà như thế.

Ðôi guốc không hiểu sao nó có sức chịu đựng trung thành theo chân bà. Nó còn nhớ ngày xưa nằm trên quầy tủ cửa hàng, mới chỉ nghĩ đến ra đi đã ngao ngán quá rồi. Vậy đâu là sức mạnh? Gần đến cuối đời, đôi guốc nhìn lại những bến bờ đã đi qua, nó thấy cộng lại những cây số ngàn ấy, không bước chân nào của bà mẹ không có tình thương. Từ sớm tinh mơ đến tan chợ chiều, bà vất vả cũng vì các con mà thôi. Từ đó, đôi guốc khám phá ra khi nó được chia sẻ đời nó trong tình yêu, tình yêu cho nó sức mạnh. Bất cứ nơi nào có tình yêu thì có sức sống. Bất cứ gỗ đá nào chạm vào tình yêu cũng thành trái tim mềm mại thiết tha. Và nó hiểu, nó không đi tìm mùa xuân vì chính nó đang làm nên mùa xuân cho cuộc đời.

* * *
Thưa mẹ, con còn nhớ một đêm kia, khuya quá khuya, mẹ ngồi bên con, nhìn con trong cơn sốt. Làm sao mẹ có đôi đũa thần của bà tiên quyền phép làm cho con hết cơn đau. Mẹ cứ ngồi bên con vậy thôi. Mẹ không an lòng rời xa con. Me đặt tay lên trán con chờ mong từng giây cho con hết bệnh. Muốn uống một ly sữa, con chỉ cần đưa chiếc ly lên miệng uống là xong. Bây giờ nhìn lại, con thấy đêm đó, khi chợt nghe con muốn một ly sữa, mẹ vội thắp thêm đèn, chiếc đèn dầu con tù mù, lệch kệch ra sau vườn kéo gầu nước, nhóm bếp củi mù than đun nước. Mẹ hối hả không ngại ngùng gõ cửa hàng vào những giờ người ta không muốn thức giấc để mua, hòa cho con một ly sữa.
* * *
Sau khi bà mẹ chết, đôi guốc nằm im lặng nơi góc tường tối. Không người con nào để ý. Nó âm thầm một đời theo chân người mẹ, hy sinh, vất vả, chịu đựng. Lúc người mẹ còn sống, đôi guốc đã âm thầm như thế. Bây giờ bà chết rồi, nó vẫn tiếp tục cái âm thầm của bao tháng ngày về trước. Chẳng lẽ bất cứ điều gì liên quan tới mẹ đều lặng lẽ như thế sao?
Tình yêu của những người mẹ dường như bao giờ cũng âm thầm. Xin những người con hãy khuấy động tình yêu âm thầm ấy của mẹ bằng một cánh hoa linh hồn.

Kìa, ngoài kia đất trời đã đang chuyển mình tìm mùa xuân.


Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.
(trích theo thanhlinh.net)

Tản mạn: Dê đen, dê trắng


Trong 12 con Giáp, Dê đứng hàng thứ 8. Tháng Sáu thuộc tháng Mùi. Giờ Mùi từ 13 -15 giờ. Dê là vật nuôi gần gũi và thân thuộc với cuộc sống con người. Dê đực có sừng, dê cái thì không. Nét đặc trưng là cả dê đực và dê cái đều có râu. Dê là dương, tượng trưng của mặt trời, sự thịnh vượng và ánh sáng. Dê được xem là biểu tượng của tính ôn hòa, thuần hậu. Dê là một trong những thần vật được người Ai Cập sùng bái. Một số dân tộc còn dùng Dê làm vật tế thần. Theo văn hóa Đông phương, Dê thuộc “tam sinh, lục súc”. Tam sinh là ba thứ lễ vật đặc biệt để cúng tế thần thánh: dê, heo và bò; lục súc là sáu gia súc thông dụng nhất: dê, gà, chó, heo, ngựa và trâu. Theo văn hóa Tây phương, Dê nằm trong 12 cung hoàng đạo với hình tượng Ma Kết. 

Xuân Ất Mùi đang về, tản mạn ngụ ngôn “Dê đen - Dê trắng” và tính cách người tuổi Mùi.

1. Ngụ ngôn Dê đen và Dê trắng

Một gia đình nông dân nọ có nuôi một đàn dê, trong đó có một chú Dê đen. Các con Dê trắng rất kiêu ngạo vì bộ lông trắng phau như tuyết, thường tỏ ra coi thường Dê đen, mô tả dê đen “giống như một kẻ nghèo hèn với chiếc áo bẩn thỉu". Ngay cả ông chủ cũng coi thường Dê đen, ông ta chỉ cho Dê đen ăn những loại cỏ kém chất lượng, thỉnh thoảng còn đánh đập Dê đen vì “tội” tranh ăn với Dê trắng. Dê đen rất đau lòng khi phải sống những ngày tháng cô đơn vì bị mọi người phân biệt đối xử, ghét bỏ và xa lánh. Một ngày đầu Xuân, cả đàn dê cùng ra ngoài ăn cỏ, chúng đi rất xa. Đột nhiên trời đổ một trận mưa tuyết lớn, cả đàn đành nấp vào một bụi cây. Một lúc sau, xung quanh bụi cây đã phủ đầy tuyết trắng. Do tuyết dày nên cả đàn dê không sao ra được, chỉ còn cách ngồi chờ chủ đến cứu. Ông chủ lên núi tìm đàn dê của mình, nhưng vì xung quanh toàn tuyết trắng, nên ông không sao phát hiện ra đàn dê ở đâu. May mắn thay, từ xa ông nhìn thấy có một đốm đen. Khi chạy tới, quả nhiên cả đàn dê đang bị kẹt ở đó, và đốm đen kia chính là Dê đen.Ông chủ ôm lấy Dê đen và thốt lên: “May mà nhờ có mày, nếu không cả đàn đã chết cóng vì tuyết rồi”. Các Dê trắng cũng ôm lấy Dê đen và cảm ơn rối rít. (x. Ephata 640, Bản dịch của Trầm Thiên Thu).


Ngụ ngôn “Dê trắng và Dê đen” gợi nhớ câu chuyện Phúc Âm: hai người lên Đền Thờ cầu nguyện (Lc 18,10-14). Sự tương phản giữa hai thái độ của con người. Người Biệt phái là nhân vật được xã hội đương thời kính trọng, vì thuộc thành phần nhiệt tâm giữ luật, thực thi đức ái hơn nguời khác. Người thu thuế, kẻ bị xã hội mạt sát, khinh chê. Hai mẫu người đối lập cùng bước vào Đền thờ và làm cùng một công việc là cầu nguyện. Tại đây, sự tương phản giữa hai con người trở nên rõ nét khi tâm tính và thái độ sâu kín được bộc bạch trước nhan Thiên Chúa. Người Biệt phái ung dung tự tại, đứng thẳng cầu nguyện: Lạy Thiên Chúa, con cảm tạ Chúa vì con không giống các người khác, không tham lam, không bất công, không ngoại tình hay như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, dâng một phần mười thu nhập của con. Người Biệt phái đang báo cáo thành tích. Ông nói điều ông đã làm và những gì ông làm thì không chê vào đâu được: không gian tham, không chiếm đoạt, không rối vợ rối chồng, không đam mê tội lỗi, thậm chí về phần đạo đức bác ái, ông còn làm quá điều luật dạy. Thường người ta chỉ ăn chay một ngày trong năm vào dịp lễ Sám hối, đàng này ông ăn chay hai ngày trong tuần. Luật buộc các nông dân nộp một phần mười sản phẩm cho việc phụng tự, ông lại nộp thuế thập phân tất cả thu nhập của ông. Đây là lời cầu nguyện mà nhiều người Do thái thời ấy mơ ước. Không thấy ông xin gì cho bản thân. Lời cầu nguyện chỉ là lời tạ ơn. Điều đáng tiếc là lời cầu nguyện của ông đầy nét tự hào, tự mãn và khinh bỉ tha nhân: Vì tôi không như bao người khác, tôi không như tên thu thuế kia. Rõ ràng người Biệt phái tốt lành quảng đại nhưng lại tự phụ khoe khoang, khinh người. Đây là biểu tượng cho hạng người hay chúc tụng, tôn thờ bản thân mình. Thật đúng, kiêu căng đứng trước trong danh sách bảy mối tội đầu.

Người thu thuế đến thú tội, anh ý thức mình là tội nhân nên run rẩy xấu hổ, đầu cúi xuống chẳng dám ngước lên. Anh đã nghe thấy lời cầu nguyện của người Pharisiêu (hay như tên thu thuế kia), nên anh thấy khỏi cần cáo tội mình. Anh chỉ còn đặt mình trước nhan Thiên Chúa một cách trung thực và khẩn khoản nài xin: Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi. Điều anh khao khát là được Thiên Chúa tha thứ và được làm hoà với anh em. Anh chỉ đứng xa xa vì thấy mình bất xứng. Lời cầu hết lòng khiêm tốn đó có sức an ủi anh ngọt ngào biết bao. Anh cảm thấy đầy niềm tin tưởng vào lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa, vì anh biết rằng: dù tội lỗi như Aaron đúc bò vàng cho toàn dân thờ, dù thủ đoạn như vua Đavít đã cướp vợ giết chồng người khác nhưng họ đã hết lòng ăn năn sám hối và Thiên Chúa đã sẵn lòng tha thứ; dẫu rằng cả toàn dân bỏ Chúa và bị bắt lưu đày Babylon, lại bị thủ tướng Aman ra tay diệt trừ nhưng trong cơn cùng khốn như thế, hoàng hậu Ette cùng toàn dân đã biết ăn năn sám hối tội lỗi, Thiên Chúa đã ra tay giải thoát họ; hay tội lỗi như dân ngoại Ninivê, Thiên Chúa còn thương, bắt buộc Ngôn sứ Giona đến rao giảng cho họ biết cải tà qui chính, Thiên Chúa liền tha thứ cho họ khi họ sám hối chân thành. Thấy tất cả những sự kiện lịch sử thống hối đó, người thu thuế càng thêm tin tưởng vào lòng thương xót khoan dung cùa Thiên Chúa, anh càng đấm ngực hết lòng ăn năn.

Đức Giêsu kết luận: Người thu thuế trở nên công chính còn người biệt phái thì không được…. Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.

Người thu thuế ra về và được tha hết mọi tội, tâm hồn thành trắng trong.Người biệt phái ra về tội lỗi vẫn cứ còn đó.Cái tôi nặng quá nên còn phải gánh thêm sức nặng của tội lỗi nữa, thật đáng thương cho đời một người quá tự kiêu tự mãn.

Tội lỗi hay hành động xấu không làm người ta mất sự công chính cho bằng tính tự mãn thói kiêu căng. Người thu thuế đã thật sự phạm nhiều tội lỗi nên đã làm mất đi sự công chính, nhưng hành động khiêm tốn biết nhìn nhận mình tội lỗi và hết lòng thống hối nên được công chính trước Thiên Chúa. Khiêm nhường có khả năng biến tội lỗi thành thánh thiện, bất chính thành công chính. Trái lại, kiêu ngạo tự mãn có thể biến điều tốt thành điều xấu. Khiêm nhường, tự hạ, quên mình luôn được coi là nền tảng của sự thánh thiện, là gốc rễ của các nhân đức. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I đã nói: Trên thiên đàng không thiếu bọn thu thuế và gái điếm, nhưng không có kẻ kiêu ngạo. Dưới hoả ngục có cả Hồng Y, Giám Mục nhưng không có người khiêm nhường. 

Khiêm nhường bao nhiêu cũng không đủ, chỉ một chút kiêu ngạo cũng quá nhiều. Đừng vì mình đạo đức mà khép kín trong tự mãn, cũng đừng vì mình tội lỗi mà khép kín trong tuyệt vọng. Ơn Chúa chỉ đến với người biết mở tâm hồn ra để đón nhận. Tội lỗi hay công đức đều có thể làm người ta khép lại hay mở ra. Điều quan trọng là thấy mình luôn luôn cần Chúa.

2. Năm Dê và người tuổi Mùi

Ngụ ngôn “Dê đen và Dê trắng” gợi lên ý tưởng sống đẹp. Trong một nhóm, một hội đoàn, một tổ chức…mỗi người một tài năng, mỗi người một tính cách “bá nhân bá tánh”, ai cũng có sở trường và sở đoản, không ai bất tài vô dụng và cũng chẳng ai toàn diện tài giỏi về mọi lĩnh vực. Vì vậy mình không nên thiển cận, đừng thành kiến và không đánh giá người khác theo hình thức bề ngoài. Cuộc sống luôn luôn cần tình yêu thương trong lối nhìn lối nghĩ về tha nhân. 

Người tuổi Mùi sinh vào năm 1943,1955, 1967, 1979, 1991, 2003. Năm Ất Mùi cầm tinh con Dê là con vật dịu dàng và ôn hòa. Người tuổi Mùi vui vẻ, chân thật, thân thiết, sâu sắc, tốt bụng, dễ động lòng trắc ẩn với nỗi bất hạnh của người khác. Do đó, họ cũng được người khác quan tâm. Cần phát huy hết sở trường, người tuổi Mùi có tâm hồn nghệ sĩ, có năng khiếu thẩm mỹ, có thể trở thành những nghệ nhân có tính sáng tạo cao. Ngược lại, nếu không có những thành công về sự nghiệp, người tuổi Mùi có thể trở thành người bi quan, chán nản, yếm thế, vì họ là dạng người đa sầu đa cảm.Tính cách của người tuổi Mùi là hiền lành, bẽn lẽn, dễ mắc cở, nhưng hòa đồng. Họ hướng nội, sống khép kín, không thích chống đối, không thích đấu tranh, không muốn “đụng chạm”. Tuy nhiên, người tuổi Mùi vẫn gặp may mắn trong sự nghiệp và tài chính.Người tuổi Mùi không thích bị bó buộc, thích cuộc sống phẳng lặng. Thái độ làm việc của người tuổi Mùi có thể khiến người ta khó chịu, nhưng biết sao được vì đó là thuộc tính của họ. Khi gấp, người khác có thể cuống cuồng, nhưng người tuổi Mùi vẫn từ từ, thản nhiên. Với đặc tính ôn hòa, người tuổi Mùi có thể kết bạn với những người mạnh mẽ, biết “khống chế” họ. Họ cần ở những nơi có nội quy nghiêm khắc để phát huy hết sở trường.

Con Dê có những đặc tính tốt như vui tươi, lanh lẹ và dễ nuôi. Cầu chúc mỗi người bước vào năm mới Ất Mùi luôn hân hoan, nhanh nhẹn và dễ dàng sống thích nghi hoà hợp với mọi người.

Xuân đến, ánh thái dương của tiết trời nắng ấm toả xuống chan hoà cho trái đất hồi sinh, cây cỏ xanh tươi, muôn hoa đua nở khoe sắc tỏa hương, lòng người phấn khởi, vui tươi hạnh phúc, ai cũng chúc cho nhau những lời tốt đẹp: sức khỏe, an khang, thành công, may lành. Trên mọi lời chúc, tuyệt vời nhất chính là lời chúc của Đức Giêsu Kitô: “Bình an cho anh em”(Ga 20,19). Gặp nhau, đến thăm nhau những ngày Tết, mỗi người ghi nhớ Lời Chúa: “Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy” (Mt 10,12).

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
(trích theo Vietcatholic.org)

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Phải chăng sự “tàn bạo” đã không còn giới hạn?!

(Dân trí) - Có 280 triệu đồng hỗ trợ người dân sau một vụ mùa mất trắng mà đang tâm “ăn” tới 250 triệu đồng thì quả là một kỉ lục về sự “ăn không từ một cái gì” của dân một cách “tàn bạo”! Đó là chuyện xảy ra ở xã nghèo Đồng Văn, huyện Tân Kỳ, Nghệ An.
 >>   Quan xã ăn chặn cả “gói mì tôm” của người tàn tật
 >>   Chuyện buồn ở xã 135: 250 triệu đồng hỗ trợ cho dân bị cán bộ "om" đã được thu hồi

(Minh họa: Ngọc Diệp)
(Minh họa: Ngọc Diệp)
Vụ đông xuân năm 2013, do gieo cấy giống lúa BC15, vụ mùa chính này mất trắng do lúa không cho hạt, đẩy đời sống người dân ở đây vào hoàn cảnh rất khó khăn, thậm chí có những gia đình rơi vào thiếu đói cả năm.
Trước những khó khăn trên, Nhà nước chủ trương giúp đỡ người dân bằng cách hỗ trợ tiền phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho những hộ này. Tổng số 151 hộ dân trên địa bàn 8 xóm được nhận số tiền là 280 triệu đồng.
Qua điều tra, xác minh thực tế tại các hộ dân nằm trong danh sách được hỗ trợ, phóng viên Dân trí không khỏi bất ngờ khi hầu hết những hộ dân được hỏi đều trả lời rằng họ chưa nhận bất cứ một đồng tiền hỗ trợ nào.
Một số hộ “may mắn” được cấp tiền nhưng con số thực tế được nhận lại “lệch” quá xa so với bản danh sách có chữ ký của những hộ dân này. Có người chỉ nhận được 300.000 đồng nhưng trong danh sách số tiền lên đến 2.100.000 đồng...
Sau khi báo Dân trí phản ánh, huyện Tân Kỳ thành lập đoàn thanh ra kiểm tra, rà soát và đã thu hồi hơn 250 triệu đồng do chi trả sai nguyên tắc.
Thật ra việc xà xẻo của dân ở cái thời “người ta ăn của dân không từ một cái gì” như lời Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan không phải là hiếm. Song điều đáng buồn, “người ta” ở đây có lẽ hầu hết là cán bộ, đảng viên, tức là những người có chức, có quyền. Dù kỉ luật của Đảng rất nghiêm khắc nhưng tình trạng này vẫn tiếp diễn.

Trong bài “Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng: “Bảo bối” cần duy trì lâu dài và thường xuyên” đăng trên báo Đảng Cộng sản, ông Nguyễn Đức Hà Vụ trưởng, Ban Tổ chức Trung ương, Thành viên Tổ giúp việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) cho biết: “Năm 2012, xử lý kỷ luật 16 nghìn đảng viên; năm 2013, xử lý kỷ luật trên 21 nghìn đảng viên; năm 2014, xử lý kỷ luật trên 17 nghìn đảng viên.

Như vậy qua 3 năm, chúng ta đã xử lý kỷ luật trên 54 nghìn đảng viên và đưa ra khỏi Đảng qua những hình thức xử lý khác đối với hàng nghìn đảng viên khác. Hơn 54 nghìn đảng viên này là có án, có hình thức, còn diện kiểm điểm sâu sắc, rút kinh nghiệm sâu sắc còn lớn hơn”.

Vậy là nếu cộng các hình thức như “kiểm điểm sâu sắc, rút kinh nghiệm”, số cán bộ, đảng viên vi phạm lên đến trên 100 ngàn. Đây là một con số quá lớn đối với một Đảng cầm quyền luôn phấn đấu cho mục đích công bằng, dân chủ và trong sạch.

Tại Hội thảo “Nâng cao vị thế, vai trò và trách nhiệm cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình hiện nay" diễn ra ngày 28/1 tại Quảng Ninh, Nhà báo Hữu Thọ viết về những nguyên nhân có thể dẫn đến mất quyền, đó là: “Để kinh tế chậm phát triển, trì trệ, đời sống nhân dân không được nâng cao, thậm chí suy giảm; không thực hiện dân chủ và công bằng xã hội trong đánh giá con người và phân phối lợi ích; lợi dụng lợi ích để tham nhũng, lợi dụng quyền hành để lãng phí công quỹ…”.

Đối với vụ việc ở xã Đồng Văn chính là “lợi dụng lợi ích để tham nhũng”, tức là một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến mất quyền lãnh đạo của Đảng.

Có 280 triệu đồng hỗ trợ người dân sau một vụ mùa mất trắng mà đang tâm “ăn” tới 250 triệu đồng thì quả là một kỉ lục về sự “ăn” của dân một cách “tàn bạo”.

Khi mình viết xong bài này, trên Dân trí lại vừa đăng tải một vụ việc còn “kỉ lục” hơn, đó là cán bộ chính sách ở xã Trịnh Xá (tp Phủ Lý, Hà Nam) nhiều năm nay âm thầm ăn chặn mất 90.000 đồng trong số 270.000 đồng tiền trợ cấp của Nhà nước/tháng dành cho người khuyết tật nặng mà với số tiền đó tính ra chỉ đủ để mua 3 gói mì tôm/ngày.

Hình như sự “tàn bạo” đã không còn giới hạn, phải không các bạn?!

 

 

Bùi Hoàng Tám

(trích báo Dân trí)