Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

Bệnh "chuồn chuồn"

(GDVN) - Người xưa nói “lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt”, trốn đi đâu cũng vẫn bị truy nã, sợ nhất là “lưới người” dù ken rất dày nhưng vẫn chừa "cửa thoát hiểm".
Bệnh “chuồn chuồn” là loại bệnh thời hiện đại, bệnh này có những biểu hiện mà ai cũng có thể  nhận thấy như “chuồn” khỏi công sở giờ hành chính, “chuồn” tài sản cho người khác, “chuồn” ra nước ngoài… 
Đối tượng nhiễm căn bệnh này thường là những người “giàu lên rất nhanh” mà không rõ nguồn gốc tài sản, những người “thừa” thời gian ở công sở mà túi thì lại quá rủng rỉnh hay những người tai rất thính, họ không đánh hơi bằng mùi mà bằng tiếng nhạc chuông smartphone. 

Dân gian đôi khi “quá đà” còn gọi là bệnh này là bệnh “công bộc”, sở dĩ nói là “quá đà” vì không phải tất cả “công bộc” đều mắc bệnh mà chỉ là “một bộ phận không nhỏ” mà thôi. 

Phát biểu nhân vụ án Giang Kim Đạt, ông Phạm Anh Tuấn, Phó trưởng Ban Nội chính TƯ cho rằng:  “thủ đoạn chuyển hóa tài sản tham nhũng qua tên bố mẹ như trường hợp Giang Kim Đạt là tương đối phổ biến”. [1] 

“Chuyển hóa” là cách nói với truyền thông, ngôn ngữ quan trường vốn phải như thế, dân gian chỉ dùng một từ mà cũng lột tả hết ý nghĩa, đó là từ “chuồn”, vậy nên nếu thử diễn đạt lại câu nói của ông Tuấn “thủ đoạn “chuồn” tài sản tham nhũng qua tên bố mẹ như trường hợp Giang Kim Đạt là tương đối phổ biến” thì dân quê nghe cũng vẫn hiểu được. 

Vì ý kiến của ông Tuấn liên quan đến vụ Giang Kim Đạt nên ông chỉ nói đến chiều ngược, tức là con cái “chuồn” tài sản cho cha mẹ, cũng vì nó là “ngược” nên nó chỉ “tương đối phổ biến”.  

Theo chiều “thuận”, vận dụng ý kiến của ông Tuấn thì “thủ đoạn chuồn tài sản tham nhũng qua tên con cái, người thân là khá phổ biến”. 

Không biết sử dụng cụm từ “khá phổ biến” đã đủ độ “ngược” với “tương đối phổ biến” hay chưa? Mặt khác nói “khá phổ biến” có phải là nhận định chủ quan, không có cơ sở hay không? 

Để trả lời, xin nêu nhận định của truyền thông, chẳng hạn vtc.vn ngày 13/6/2014 viết “Quan chức mất tiền tỷ: Khai phần nhỏ, phần lớn chuyển con cháu”,Tienphong.vn ngày 25/3/2015 thì viết “Chặn tiền tham nhũng chảy vào túi người thân”, còn Phapluattp.vn ngày 27/11/2014 viết “Tài sản tham nhũng bị tẩu tán tinh vi”…

Chuyện “chuồn” tài sản cho người thân chắc là không cần dẫn chứng thêm nữa, còn “chuồn” đi chơi trong giờ hành chính thì cũng không thiếu dẫn chứng, như lãnh đạo và nhân viên quận Ngô Quyền, Hải Phòng đi chơi ở Singapore đến ngày làm việc vẫn chưa về, hay chuyện một vị cấp phó của EVN trong giờ hành chính “chuồn” đi chơi golf thì nhiều báo đã đăng tải. [2]

Ảnh chụp màn hình Baogiaothong.vn ngày 17/7/2015
Riêng chuyện ra nước ngoài, lúc đầu người dân tưởng chỉ có Dương Chí Dũng mắc phải “bệnh chuồn chuồn”, mấy hôm nay xuất hiện thêm “bệnh nhân” thứ hai là Giang Kim Đạt, dù cũng “chuồn chuồn” như Dương Chí Dũng song kết cục cũng chả khác gì. 
Sự giống nhau của hai “bệnh nhân” này là đều đã “đánh hơi” được vụ việc nên đã nhanh chân “chuồn” sang nước khác. Thậm chí Giang Kim Đạt còn “Trốn truy nã, sang Singapore mua nhà 3,6 triệu đô”. [3]
Vinashin làm thâm hụt gần 5.000 tỉ đồng vốn của Nhà nước, nguy cơ lỗ thêm khoảng 8.500 tỉ đồng (Ảnh chụp màn hình)
Từ năm 2011, đã có tiếng nói báo động, rằng Vinashinlines lỗ 5.000 tỷ và có thể lỗ thêm 8.500 tỷ. [4] Về vụ Giang Kim Đạt, báo Dantri.com.vn viết:

 “Các trinh sát an ninh mà chủ công Cục An ninh kinh tế tổng hợp luôn trăn trở với câu hỏi về khoản lỗ, nợ lên đến 10.000 tỉ đồng của Công ty Vinashinlines, công ty này rơi vào tình trạng phá sản…”. [5]

Vinashinlines lỗ, nợ 10.000 tỷ (Ảnh chụp màn hình)
10.000 tỷ là khoảng 450 triệu USD, một khi doanh nghiệp nhà nước “rơi vào tình trạng phá sản” thì ngoài khoản thu hồi ít ỏi, ngân sách phải trả nợ thay. 
Với 18 triệu USD mà phía Mỹ cung cấp đã mua được 6 tàu tuần tra cao tốc ven biển. Vậy thì khoản lỗ cộng với nợ của Vinashinlines tương đương giá tiền mua 150 tàu tuần tra cao tốc hoặc dân gian tự tham khảo mà tự định giá rằng có thể mua được hàng chục chiếc máy bay tiêm kích hiện đại kiểu như Su-30MK2.
Nếu cảnh sát biển có thêm 150 tàu tuần tra, chắc ngư dân sẽ yên tâm làm ăn không sợ bị bọn xấu uy hiếp đâm tàu, cướp ngư cụ,... Nếu có thêm một trung đoàn tiêm kích hiện đại, chắc chắn kẻ thù phải lo sợ nếu chúng có ý đồ xâm phạm vùng trời, vùng biển Tổ quốc.

Với chức vụ quyền Trưởng pḥòng kinh doanh Vinashinlines, một chức vụ có thể coi là loại “thường”, Giang Kim Đạt đã có thể kiếm cho gia đình 40 bất động sản có giá trị lên đến hàng trăm tỷ đồng, nghĩa là bằng khoảng 1% khoản lỗ, nợ của Vinashinlines. 

Vậy nên với khoản lỗ nợ 10.000 tỷ, con số tội phạm chắc chắn không phải chỉ là vài ba người, nếu có những “con chuồn chuồn” to hơn Giang Kim Đạt thì gia sản của nó sẽ bằng chừng nào?

Để bắt được Giang Kim Đạt, Bộ công an phải tiến hành chuyên án trong 5 năm trời, các cán bộ, chiến sĩ công an phải ăn mì tôm ngồi theo dõi ở nước ngoài. 

Trí tuệ và công sức ngành Công an bỏ ra không thể đo đếm bằng tiền mà chỉ có thể bằng niềm tin của nhân dân vào những chiến sĩ công an ngày đêm thầm lặng thực hiện nhiệm vụ được giao.

Người xưa nói “lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt”, trốn đi đâu cũng vẫn bị truy nã đem về trị tội, sợ nhất là “lưới người” dù ken rất dày nhưng lại vẫn chừa “cửa thoát hiểm”. 

Không hề thiếu các văn bản quy phạm pháp luật về phòng chống tham những, thế nhưng gần triệu người kê khai tài sản, thu nhập, chỉ có 4 người phải xem xét, nói như ông Phạm Trọng Đạt, Cục trưởng Cục Chống tham nhũng - Thanh tra Chính phủ: “không có cơ sở để nghi ngờ việc chỉ có 4 cán bộ không trung thực trong tổng số gần 1 triệu người kê khai tài sản, thu nhập” (dantri.com.vn 6/7/2015). 

Không có cơ sở để nghi ngờ, thế là minh bạch, thế là trong sạch, thế thì phải mừng vì đội ngũ toàn là người đã được xác nhận là “không có cơ sở để nghi ngờ”! 

Có một loại thước đo "đặc biệt" để đánh giá sự trung thực của cán bộ

(GDVN) - Không ai hiểu cán bộ bằng dân. Hãy để người dân tự đánh giá cán bộ tốt hay xấu...
“Bệnh chuồn chuồn” luôn đi kèm một loại vacxin tự chế của bệnh nhân là “dọn ổ”, về điều nàyvov.vn ngày 24/10/2014 dẫn lời ông Lê Như Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội: 

Tôi đã nhiều lần nói với cơ quan thông tin và cơ quan quản lý là nên có quy định cấm cán bộ lãnh đạo quản lý trước khi nghỉ hưu ký quyết định nhân sự và công trình đầu tư, dự án... 

Chuẩn bị nghỉ thì không còn gì để mất và cố làm chuyến tàu vét cuối cùng trước khi hạ cánh. Đó là tâm lý chung”. 

Khi đã “dọn ổ” xong, khi đã “làm chuyến tàu vét cuối cùng”  thì yên tâm “chuồn chuồn về ổ” mặc cho các loại “chuồn” khác tha hồ “dự báo thời tiết”. Nói thế là dựa vào câu nói dân gian “chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”.

Tuy vậy, dự báo thời tiết dân gian nhiều khi sai bét, bay cao đến 10.000 mét trên máy bay Boeing sang tận Singapore như “chuồn chuồn kim” Kim Đạt, một khi Bộ Công an đã vào cuộc thì cũng chẳng có “trời” nào “nắng” nổi.

Khác với các loại bệnh thông thường, “bệnh chuồn chuồn” hiện nay ngành Y chưa có một bệnh viện nào nhận chữa và cũng chưa có thuốc đặc hiệu, cũng may còn có “bệnh viện” của ngành Công an. 

Ngoài việc cần đội ngũ “bác sĩ” chuyên nghiệp có tay nghề cao, thiết nghĩ Nhà nước nên khuyến khích các ông “lang vườn” mạnh dạn kê đơn, trợ giúp các chiến sĩ công an, phòng bệnh bao giờ chả tốt hơn chữa bệnh. 

Tài liệu tham khảo: 
Xuân Dương
(Trích báo Giáo dục Việt Nam)

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015

Quân Vương, tội ác và trừng phạt

(GDVN) - “Một Quân vương không nên sợ mang tiếng là tàn ác, khi cần phải giữ thần dân trong vòng đoàn kết và phục tùng"
Nhà văn, nhà nghiên cứu nổi tiếng Nguyễn Hiến Lê (1912-1984), vốn quê ngoài Bắc (Phương Khê, Quảng Oai, Sơn Tây) nhưng sống chủ yếu tại Sài Gòn.
Trước khi mất ông đã viết và biên soạn đúng 100 cuốn sách thuộc nhiều lĩnh vực như Văn học, Triết học, Ngôn ngữ… Trong số này đáng chú ý là cuốn “Kinh Dịch, đạo của người quân tử”. 

Tên cuốn sách cho thấy tác giả muốn ngụ ý, rằng người quân tử có thể tìm trong Kinh Dịch những phép đối nhân xử thế, những suy luận sâu xa về cuộc sống con người chứ không phải chỉ là bói toán, mê tín dị đoan. [1]

Cũng còn một ẩn ý khác, không biết có phải tác giả ngầm gửi gắm hay không, rằng Kinh Dịch không phải là Đạo của Quân vương, dùng cho người thường, cho những sự việc hàng ngày thì được, dùng để trị quốc thì không được.

Đọc Kinh Dịch, đọc mươi trang là nhức đầu, hiểu lõm bõm một chút đã là tốt rồi, sách ấy người trẻ tuổi đọc hơi khó tiếp thu, người dân bình thường đa phần cũng thế. 

Có một cuốn sách, đọc đến đâu hiểu đến đấy, đọc xong một chương lại muốn đọc tiếp chương khác, ấy là cuốn Quân Vương của Niccolo Machiavelli, nhà bác học, chính trị gia người Ý. Cuốn sách được dịch giả Phan Huy Chiêm chuyển sang Việt ngữ. 

Trái với Kinh Dịch, Quân vương có thể coi là cuốn sách về trị quốc, tuy sách viết cho các bậc Quân Vương nhưng ai cũng có thể đọc và hiểu. 

Như đã dẫn trong bài “Tham vinh quang” (Báo điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 21/5/2015), Quân Vương là cuốn sách gây nên rất nhiều tranh luận. Bài viết này chỉ là một góc nhìn rất hẹp đối với quan điểm của Niccolo Machiavelli về người lãnh đạo các quốc gia.

Trang bìa Quân Vương xuất bản năm 1550 (Ảnh: Xuân Dương)
Chương 17 của tác phẩm có tiêu đề “Độc ác để dân sợ hay độ lượng để dân yêu?”.

Bản dịch sang tiếng Anh câu của Niccolo Machiavelli là : “It is better to be loved or feared” nghĩa là “điều nào là tốt hơn giữa dân yêu hoặc dân sợ?”. 

Người viết cho rằng câu chuyển sang Anh ngữ nêu trên hợp lý hơn là nói “độc ác để dân sợ”, tuy nhiên trên tinh thần tôn trọng, người viết sẽ giữ nguyên từ ngữ mà dịch giả Phan Huy Chiêm đã dùng.

Có thể thấy câu hỏi này chỉ dành cho người đứng đầu, đó cũng là câu hỏi mọi Quân Vương phải trả lời dù là minh quân hay bạo chúa. 

Niccolo Machiavelli cho rằng: “Một Quân vương không nên sợ mang tiếng là tàn ác, khi cần phải giữ thần dân trong vòng đoàn kết và phục tùng. Kinh nghiệm cho thấy, như thế là có đức nhân từ hơn làm ra vẻ thương dân mà lại để cho trật tự rối loạn, xảy ra cướp bóc, giết chóc lung tung trong dân chúng. 

Những biến cố này thường thiệt hại cho toàn thể nhân dân, còn những sự trừng phạt nghiêm khắc của Quân Vương chỉ đụng chạm đến những cá nhân mà thôi”.

Cụm từ “tàn ác” mà dịch giả Phan Huy Chiêm sử dụng, có thể khiến người đọc hiểu theo hướng tiêu cực. Tuy nhiên nếu đặt trong tổng thể câu văn sẽ thấy triết lý trị quốc của người xưa không phải là đề cao sự “tàn ác” mà là “trừng phạt nghiêm khắc”. 

Nhận định của Niccolo Machiavelli cho thấy độ lượng đến mức để cho “trật tự rối loạn, xảy ra cướp bóc, giết chóc lung tung trong dân chúng” chúng khiến muôn dân kêu than không phải chỉ là lỗi mà còn là tội của Quân vương. 

Trong trường hợp này, Quân vương tuy không trực tiếp cướp của, giết người nhưng là đồng phạm với hành động cướp của, giết người. 

Ngược lại, trừng trị nghiêm khắc một thiểu số tội phạm, kể cả dùng án tử hình để giữ gìn kỷ cương phép nước, giữ sự bình yên cho cuộc sống dân lành mới là nhân từ, mới là việc cần làm của đấng Quân vương.

Có lẽ chính vì thế mà nhiều Đại biểu Quốc hội thời gian qua đã phản đối gay gắtDự thảo bãi bỏ án tử hình với tội tham nhũng, tội vận chuyển ma túy và một số tội danh khác. 

Người viết cho rằng trong hoàn cảnh hiện nay, ý kiến phản đối của những vị ĐBQH này là hợp lòng dân, nhân từ với thiểu số tội phạm tức là không nhân từ với quảng đại quần chúng. 

Nói thế không phải là cổ xúy cho các hành động tàn ác của một Quân vương. Cuộc chiến mà A. Hitler gây ra cho nhân loại hay hành động xua quân xâm lược Việt Nam của Đặng Tiểu Bình là tội ác mà nhân loại cần phải lên án. 

Hành động mà Niccolo Machiavelli gọi là “tàn ác” ở đây chỉ nhằm đến một số cá nhân nhưng với mục đích bảo đảm sự an toàn cho cả vương quốc. 

Không phải là có thể mà cần phải chấp nhận “làm việc ác” với thiểu số tội phạm bởi trong cái ác hàm chứa cái thiện. Làm điều ác với mục đích vì lợi ích phe nhóm, gia tộc, hay cho một thiểu số người chứ không phải vì quảng đại cần lao thì đó mới là tội ác.

Nói về lòng nhân từ Kinh Phúc Âm viết đại ý: “Ai tát má con bên này, thì đưa má bên kia cho họ tát tiếp”. Tuy thế, Giáo hội Công giáo La Mã  không ngần ngại tiến hành các cuộc thập tự chinh chống lại người Hồi giáo và các nhánh tôn giáo bị coi là ngoại đạo, giết hại không biết bao nhiêu sinh mạng vô tội.

Chúa dạy: “Vì các con đong đấu nào, thì cũng sẽ được đong trả lại bằng đấu ấy”. [2] Nếu một Quân vương để cho vương quốc rối ren, tham nhũng tràn lan, dân chúng lầm than, đau khổ thì chính Quân vương sẽ phải trả giá bằng sự “lầm than - đau khổ” của mình. 

Trong trường hợp này “cái đấu” mà quân vương nhận lại nếu không phải là sự cô đơn lúc xế chiều, nỗi cô đơn đến tuyệt vọng trước dòng đời cuộn chảy thì rất có thể là sự sụp đổ của ngai vàng. 

Nếu sự nhu nhược của Quân vương khiến quốc gia bị mất, dù chỉ một tấc đất của tổ tiên thì “cái đấu” nhận lại không còn là sự cô đơn mà là sự khinh miệt của hậu thế.

Trong một đất nước thanh bình, dân cư an nhàn hưởng lợi, khó có thể phân biệt giữa Quân vương kiệt xuất và kẻ tầm thường. Khi xã hội rối ren, thù trong giặc ngoài rình rập, chiến tranh đe dọa nơi biên cương, hải đảo mới là lúc cần một Quân vương dũng tuệ. 

Người Việt không phải là không có những Quân vương như vậy. Để thu phục lòng dân, khích lệ sĩ khí ba quân, đánh đuổi giặc Thanh xâm lược, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đã xưng đế với niên hiệu Quang Trung. 

"Dùng người tài,hướng lòng dân một dạ không lìa để xây thành giữ nước"

(GDVN) - Chủ tịch Hồ Chí Minh, hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân trong thế kỷ XX, đã viết: “Sử ta dạy cho ta bài học này..."
Việc này đương nhiên không làm hài lòng Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ, song chính nhờ thế mà quân dân nước Việt đã tạo nên trận Đống Đa lừng lẫy. 

Trong gia tộc, hành động của Hoàng đế Quang Trung có thể không hợp đạo lý song với quốc gia, dân tộc, xử thế của ngài đã để lại một dấu son chói lọi trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, giữ gìn bờ cõi.

Sử gia Lê Văn Hưu nhận định về Tiền Ngô Vương Ngô Quyền như sau: “Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy”.  

Quân vương là như vậy, là “một cơn giận mà yên được dân”, là “đánh giặc giỏi mà mưu cũng giỏi”. Quân vương không thể là người thủ thỉ rót vào tai dân chúng những lời hoa mỹ, đó là nhiệm vụ của mưu sĩ, những người không bao giờ có thể là quân vương.

Lịch sử cho thấy, dù đã trở thành “Người” nhân loại chưa bao giờ thoát khỏi bản chất “Con”, nhân loại đã và đang vẫn chỉ là “Con Người”. Bản chất “Con” của “Người” được một số triết gia tóm tắt qua thuật ngữ “Ba giành”, đó là các cuộc chiến  “giành lãnh thổ, giành nguồn thức ăn và giành giống cái”. 

Việc xây dựng nên các đế chế, bảo vệ hoặc mở mang bờ cõi luôn gắn liền với triết lý “Ba giành”. Để chiến thắng, Quân vương phải là người giỏi nhất trong những người giỏi. Chữ “giỏi” ở đây không chỉ bao hàm những ý nghĩa đạo đức, nhân cách mà còn gồm các thủ đoạn. 

Người dân cần phải làm quen, phải chấp nhận một điều tưởng như nghịch lý, rằng việc làm của Quân vương nhiều khi không phù hợp với các chuẩn mực mà các nhà đạo đức khuyên nhủ. 

Điều quan trọng là chiến thắng cuối cùng trong các cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ, thống nhất quốc gia… không chỉ là chiến thắng của Quân vương mà phải là chiến thắng của cả dân tộc.

Vậy nên độc ác đến mức dân sợ hay độ lượng để dân yêu đều không phải là phép trị quốc luôn đúng. 

Vào thời buổi nhiễu nhương, tặc thần nhan nhản, dân mất niềm tin thì cần phải nghiêm khắc để quan cũng phải sợ chứ không chỉ là người dân. Nhân từ độ lượng chỉ có thể khi quốc gia thái bình, dân lành yên ấm, không còn tham quan nhũng nhiễu. 

Kết hợp cả hai yếu tố, dân vừa sợ vừa yêu gần như không thể, vậy nên nếu phải lựa chọn, Quân vương cần phải chọn cách tối ưu, hãy hành động để dân sợ vương pháp trước khi họ hiểu ý nghĩa nhân văn trong đó mà chuyển từ sợ sang phục.

Với lịch sử “Ba giành”, chẳng có vương quốc nào luôn hưởng thái bình mà không có binh đao khói lửa, cũng chẳng có vương quốc nào hình thành mà không trải qua chiến tranh, vậy nên Quân vương cần phải là một chiến binh trước khi là một hiền triết.

Là chiến binh, Quân vương có thể đọc ít hơn các triết gia, là chiến binh Quân vương có thể không để lại những “lời có cánh” cho hậu thế, điều đó không quan trọng. 

Quan trọng là Chiến Binh đó để lại cho đời sau một quốc gia to đẹp, cường thịnh, một dân tộc sống trong kỷ cương nhưng không sợ cường quyền, dám đương đầu với mọi hình thức chiến tranh và biết giành chiến thắng.

Mặt khác, Quân vương không thể là chiến binh hữu dũng vô mưu. Trước bất kỳ kẻ địch nào, Quân vương phải luôn là người bình thản, biết truyền cho đối phương ý cay trong lời ngọt,  biết làm nhiều hơn nói, biết xem lợi ích quốc gia dân tộc là tối thượng. 

Quân vương phải biết tránh cho đất nước khỏi mọi cuộc chiến, nhưng khi cần cũng biết mang lại hòa bình cho dân tộc bằng chính chiến tranh. 

Vượt trên tất cả, Quân vương phải là người lãnh đạo chứ không phải người cai trị, cai trị là sử dụng quyền lực đàn áp sự phản kháng, là bằng mọi cách duy trì quyền thống trị dù nó có thể đã lỗi thời và bị lịch sử đào thải. 

Lãnh đạo là đoàn kết, là thuyết phục, là tấm gương gắn kết toàn dân hướng tới tương lai. Chăm lo cho dân giàu, nước mạnh cũng chính là bảo vệ ngai vàng của Quân vương, không làm được điều đó Quân vương hoặc là bù nhìn hoặc là đao phủ.

Lăng mộ Quân vương thời cổ đại, dẫu có vươn trên trời cao như Kim tự tháp hay chôn sâu dưới đất như Tần Thủy Hoàng, rốt cuộc vẫn bị hậu thế đào bới tan nát. Vậy nên đích đến cuối cùng của một Quân vương, của một Chiến binh chỉ nên là thảm cỏ xanh trải tít chân trời.

Có đọc Quân Vương mới thấy, các triết gia châu Âu không phải chỉ có người Đức, người Nga mà còn người Anh, người Ý, người Pháp…, tinh hoa kiến thức của nhân loại không bó hẹp ở Phương Đông hay Phương Tây.


Tài liệu tham khảo:
[1] Kinh Dịch, đạo của người quân tử, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn học, 1994
Xuân Dương
(trích báo Giáo dục Việt Nam)

Gọi lớp trưởng là chủ tịch thì buồn cười quá!

Trong lớp có chủ tịch, phó chủ tịch thì giống… UBND chứ không phải là lớp học.

Bộ GD&ĐT đang lấy ý kiến góp ý xây dựng dự thảo Điều lệ trường tiểu học thay thế điều lệ ban hành năm 2010. Chung quanh vấn đề này, chiều 16-7, trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, GS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, cho rằng dự thảo quy định một lớp có lớp trưởng, lớp phó hoặc chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng tự quản học sinh (theo hướng mô hình trường tiểu học mới - VNEN) là câu chuyện hơi buồn cười.
Đừng để các cháu đóng vai cán bộ sớm quá
GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng thông tư này đưa trẻ con vào hệ thống quan chức sớm quá, cho trẻ con đóng vai cán bộ sớm quá. Không nên trao quyền khi các em còn ở độ tuổi quá non nớt.
“Trong lớp có chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng tự quản học sinh, mỗi lớp học chia thành các ban có trưởng ban, phó ban, rồi thư ký... Cái này giống như… UBND chứ không phải là lớp học nữa. Chuyện này quá nặng nề đối với học sinh tiểu học. Các cháu tiểu học còn nhỏ lắm, đừng đưa các cháu vào hệ thống quan chức rối ren” - GS Thuyết nói.
GS Thuyết cho rằng vẫn nên giữ tên gọi lớp trưởng, lớp phó và chia thành các tổ, còn việc có tổ trưởng, tổ phó không thì để các trường tự giải quyết.
GS Thuyết đồng tình quan điểm cử các cháu là lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng, tổ phó thì nên luân phiên, không nên để các cháu làm mãi. Các cháu khác không có điều kiện để rèn luyện kỹ năng tổ chức, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng làm việc nhóm.
“Một cháu có khi làm lớp trưởng, lớp phó mãi thì có thể cháu đó chủ quan, dẫn đến nhiều cái không hay. Bởi trẻ nắm giữ chức vụ quá lâu sẽ quen với chức quyền, hình thành tâm lý ra oai” - GS Thuyết bình luận.
Với học sinh tiểu học, dùng những
từ lớp trưởng, lớp phó là hợp lý, gần gũi. Ảnh: HUY HÀ

Với học sinh tiểu học, dùng những từ lớp trưởng, lớp phó là hợp lý, gần gũi. Ảnh: HUY HÀ
Tuy nhiên, GS Thuyết cho rằng giáo viên nên quán triệt rõ từ đầu mỗi chức danh nắm giữ trong bao lâu để tránh tình trạng trẻ sốc khi “mất chức”.
Đồng quan điểm này, một giáo viên tiểu học ở Hà Nội (đề nghị không nêu tên) chia sẻ tên gọi chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng tự quản trong nhà trường là không gần gũi với học sinh. “Từ trước tới nay, từ lớp trưởng, lớp phó giản dị, dễ hiểu, gần gũi với học sinh, chỉ đúng chức năng vai trò của lớp trưởng, lớp phó trong một lớp học. Chủ tịch là từ chỉ những vị trí ở ngoài xã hội. Dùng những từ này có thể tạo cho học sinh tâm lý chức tước, quyền hành ngay từ nhỏ” - giáo viên này nói.
Tuy nhiên, TS Vũ Thu Hương, khoa Giáo dục tiểu học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, lại đồng tình với cách gọi chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng tự quản. Theo bà Hương, chức danh này giúp các cháu tự tin, mạnh dạn và làm được nhiều việc hơn. Nếu lớp trưởng, chỉ đơn thuần kiểm soát các bạn, mách cô thì chủ tịch giúp trẻ làm được nhiều việc hơn về ý thức tự quản, đánh giá các bạn.
35 học sinh/lớp có khả thi?
Theo dự thảo Điều lệ trường tiểu học, quy định lớp học chỉ có tối đa 35 học sinh. Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, nhiều ý kiến đồng tình với quy định này. GS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng đưa ra quy định như vậy thì mới có điều kiện để đổi mới phương pháp dạy học và tiến tới là thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa.
“Tôi nghĩ lớp học cứ 50-60 học sinh không thể nào thay đổi được phương pháp dạy học, mà vẫn phải sử dụng phương pháp truyền thụ một chiều theo kiểu đọc chép. Tuy nhiên, chỉ sợ khó thực hiện điều này bởi điều lệ trước đây đã đưa ra quy định sĩ số lớp nhưng ở các TP lớn như Hà Nội và TP.HCM thì vẫn quá tải, mỗi lớp 50 học sinh. Để như hiện tại thì căng quá” - GS Thuyết nói.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Kế Hào, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học (Bộ GD&ĐT), cho rằng phải có quy định lớp học dưới 35 học sinh vì không có quy định thì các địa phương không có trách nhiệm.
“Nơi nào không làm được thì cần phải suy nghĩ và giải quyết vấn đề đó chứ không thể để dai dẳng. Theo tôi nghĩ thì 35 học sinh vẫn là nhiều” - ông Hào nói.
Cũng theo đánh giá của ông Hào thì dự thảo điều lệ lần này giảm sổ sách cho giáo viên là hợp lý, bởi nếu mất thời gian quá nhiều với sổ sách thì giáo viên sẽ không có thời gian để đầu tư cho bài giảng.
Đừng gán quyền lực cho các em quá sớm
Trong Điều 20 và 21 của dự thảo có quy định hiệu trưởng phải tham gia giảng dạy bình quân hai tiết/tuần và hiệu phó dạy bốn tiết/tuần là rất hình thức, đối phó. Đây là những quy định cũ còn giữ lại nhưng rõ ràng không khả thi trong thực tế lâu nay. Theo tôi, Bộ GD&ĐT nên mạnh dạn đừng quy định điều này, thay vào đó nên quy định hiệu trưởng, hiệu phó dự giờ bao nhiêu tiết của một giáo viên trong một tuần hoặc một tháng thì đúng hơn.
Ở Điều 22 quy định tổng phụ trách là giáo viên tiểu học được bồi dưỡng về công tác Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng Hồ Chí Minh cũng rất không thực tế. Vì với giáo viên tiểu học, trong trường sư phạm không dạy về công tác đoàn, đội. Chúng ta có thể thay đổi là cán bộ đoàn được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm tiểu học thì sẽ thu hút những người có chuyên môn hơn, rồi trong quá trình làm họ có thể học nâng cao hơn.
Trong dự thảo này, tôi rất không đồng tình với Điều 17 dùng các từ chủ tịch, phó chủ tịch, trưởng ban, phó ban trong một lớp học. Chúng ta nên dành cho các em những từ ngữ, khái niệm thân thuộc, dễ mến, dễ hiểu nhất. Với học sinh tiểu học, dùng những từ như lớp trưởng, lớp phó là hợp lý, gần gũi nhất. Từ “lớp trưởng” nó đã bao hàm sự quản lý, tự chủ, dân chủ với vai trò một học sinh trong lớp học rồi. Nếu chúng ta dùng từ chủ tịch thì nó bao hàm cả một xã hội. Bình thường các em đã nghe rất nhiều từ này bên ngoài như chủ tịch phường, chủ tịch quận, rồi khi vào lớp học lại nghe từ này sẽ cảm thấy nó rất uy quyền. Từ đó về sau học sinh sẽ nặng uy quyền, chức vụ, nó sẽ không hay trong nhận thức của các em.
Chúng ta không nên gán cho các em quyền lực quá lớn ngay từ lúc nhỏ, mà chỉ nên giao cho các em nhiệm vụ nào đó trong lớp để các em thấy được trách nhiệm của mình đối với lớp học.
Đừng làm phức tạp môi trường học đường hơn nữa.
Bà VÕ NGỌC THUnguyên Trưởng phòng 
GD&ĐT quận 5 (TP.HCM)
PHẠM ANH ghi
Theo Huy Hà (phapluattp.vn)

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Không Gì Ðẹp Bằng...!


Trả lời cho một thanh niên mong mỏi được biết rõ về mình, một cụ già nọ đã kể một câu chuyện như sau:

Ngày nọ, từ một đỉnh núi cao, người ta thấy ở một chân trời xa tắp có hai bóng đen ôm lấy nhau. Một em bé thơ ngây buộc miệng nói: "Hai bóng đen đó là ba với má đang ôm nhau". Một chàng thanh niên đang mơ mộng phát biểu: "Ðó là hai tình nhân đang quấn quýt nhau". Người có tâm hồn cô đơn thì nhận xét: "Hẳn phải là hai người bạn gặp lại nhau sau hằng vạn thế kỷ xa nhau". Kẻ có lòng tham lam chỉ nghĩ đến tiền bạc thì lại quả quyết: "Ðây hẳn phải là hai thương gia vừa ký với nhau một giao kèo làm ăn". Một người đàn bà có quả tim trìu mến thì thào thốt lên: "Ðây là một người cha trở về từ chiến trận đang ôm lấy đứa con gái của mình". Một tên sát nhân đứng gần đó góp ý: "Ðây phải là hai người đàn ông đấm đá vật lộn nhau trong một cuộc giao chiến một mất một còn". Một người đàn ông không màng đến những gì đang xảy ra xung quanh mình lên giọng gắt gỏng: "Ai mà biết được họ ôm nhau hay cắn xé nhau".. Nhưng cuối cùng, một vị thánh có quả tim chứa đầy Thiên Chúa mới mỉm cười giảng hòa: "Không có gì đẹp bằng hai người ôm nhau".

Kể xong câu chuyện trên đây, cụ già kết luận: "Mỗi một tư tưởng của bạn để lộ bạn là ai. Bạn nên tự vấn lương tâm xem thử bạn thường tưởng nghĩ đến những gì. Hơn bất cứ một bậc thầy nào, những tư tưởng của bạn có thể nói cho bạn biết bạn là ai".

"Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ", chúng ta thường trích dẫn câu thơ này của cụ Nguyễn Du để nói lên hình ảnh của tư tưởng, của tâm cảnh đối với ngoại giới. Khi chúng ta vui, cảnh cũng vui lây, người cũng vui lây. Khi chúng ta buồn, cảnh cũng buồn, mà người cũng buồn lây. Khi chúng ta vui, chúng ta muốn cho mọi người cùng vui với chúng ta. Khi chúng ta buồn, chúng ta cũng cảm thấy khó chịu khi người khác vui.

Hãy chất đầy tâm hồn bằng những tư tưởng vui tươi, lạc quan: đó là một trong những bí quyết để được hạnh phúc trên đời này. Riêng đối với người Kitô hữu chúng ta, bí quyết sống hạnh phúc của chúng ta chính là: trở thành Ðền thờ sống động của Chúa. Có Chúa ngự trị trong tâm hồn, chúng ta sẽ nhìn đời, nhìn người bằng chính cái nhìn của Ngài.




Trích sách Lẽ Sống

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015

Dây Chuyền Của Liên Ðới


Một người Ả Rập nọ có một con ngựa rất đẹp... Ai thấy cũng gợi lòng tham muốn. Một người láng giềng tìm đủ mọi cách để mua cho kỳ được con ngựa, nhưng chủ nhân vẫn một mực từ chối. Không còn biết làm cách nào để thuyết phục chủ nhân, người đó đành phải nghĩ ra mưu kế để chiếm đoạt.

Biết người chủ ngựa thường hay đi qua sa mạc, hắn mới cải trang thành một người hành khất nằm rét run bên vệ đường. Người chủ ngựa là một người tốt bụng, gặp bất cứ ai hoạn nạn cũng đều ra tay cứu giúp. Vừa thấy người hành khất, người đó cảm thấy thương hại, mới đề nghị trở về một quán trọ để săn sóc.

Khi người chủ ngựa vừa mở miệng đề nghị, thì tên bất nhân mới than thở: "Ðã mấy ngày nay, tôi không có được một hạt cơm trong bụng, lấy sức đâu để leo lên ngựa". Nghe thế, con người tốt bụng xuống ngựa để giúp người hành khất leo lên lưng ngựa. Nhưng vừa leo lên lưng ngựa, tên bất lương hiện nguyên hình... Hắn giựt dây cương và thúc vào hông ngựa mà chạy... Người chủ ngựa đáng thương chỉ còn biết nhìn theo mà hối tiếc! Nhưng ông cũng cố gắng chạy theo và nói với tên bất lương như sau: "Ngươi đã ăn cắp con ngựa của ta. Nhưng ta sẵn sàng bỏ qua cho. Ta chỉ xin ngươi một điều là đừng bao giờ kể cho bất cứ ai nghe mưu mẹo ngươi đã dùng để cưỡng chiếm con ngựa của ta. Một ngày nào đó, sẽ có những người bệnh thật sự nằm rên rỉ bên vệ đường và kêu cầu sự giúp đỡ. Ta e ngại rằng sẽ không còn ai dám dừng lại để cứu giúp kẻ hoạn nạn nữa".

Dè dặt, thủ thế, nghi kỵ có lẽ là thái độ thường tình của tất cả những ai đang sống dưới chế độ độc tài. Lừa lọc, phản bội, tố cáo lẫn nhau đã khiến cho lòng người mỗi ngày một thêm khép kín... Sợi dây chuyền của khép kín mỗi lúc một dài ra và quấn lấy con người.

Mỗi một hành động xấu, trong dây chuyền của tình liên đới, đều gia tăng đau khổ cho người khác. Khi tôi lừa đảo, không những hành động của tôi chỉ trực tiếp hãm hại một vài người có liên hệ, nhưng nó cũng góp phần giảm thiểu niềm tin của không biết bao nhiêu người xung quanh. Khi tôi bạo động, không những tôi chỉ xúc phạm đến người trong cuộc, nhưng hành động của tôi cũng xóa mờ đi phần nào lòng tự ái của nhân loại... Tôi là một phần của nhân loại. Cả nhân loại sẽ đau đớn rên rỉ vì một vết thương của tôi cũng như vì một nhát gươm của tôi.

Người Kitô luôn được mời gọi để nhìn nhận hình ảnh của Chúa nơi mọi người và đón nhận mọi người như anh em của mình. Trong cái nhìn ấy, cuộc sống của chúng ta phải luôn hướng đến người anh em của chúng ta: niềm đau của người anh em cũng chính là niềm đau của chúng ta, hạnh phúc của người anh em cũng chính là hạnh phúc của chúng ta.



Trích sách Lẽ Sống

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2015

Ðể Cho Lòng Tha Thứ Tiếp Tục Hiện Hữu


Chuyện "Nghìn lẻ một đêm" của Ba Tư có kể lại một phiên tòa như sau:

Có hai người anh em ruột nọ bắt trói được thủ phạm giết cha mình. Họ lôi kéo tên sát nhân đến trước quan tòa và yêu cầu xử theo luật mắt đền mắt răng đền răng. Kẻ sát nhân đã dùng đá để ném chết cha của họ, thì hắn cũng phải bị ném đá theo như luật đã quy định... Trước mặt quan tòa, tên sát nhân đã thú nhận tất cả tội lỗi của mình. Nhưng trước khi bị đem ra xử, hắn chỉ xin một ân huệ, đó là được trở về nhà trong vòng ba ngày để giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến một người cháu được ký thác cho hắn trông coi từ nhỏ. Sau thời hạn đó, hắn sẽ trở lại để chịu xử tử... Quan tòa xem chừng như không tin ở lời cam kết của tên tử tội. Giữa lúc quan tòa đang do dự, thì trong đám đông những người tham dự phiên tòa, có một người giơ tay cam kết: "Tôi xin đứng ra bảo đảm cho lời cam kết của tử tội. Nếu sau ba ngày, hắn không trở lại, tôi sẽ chết thế thay cho hắn".

Tên tử tội được tự do trong ba ngày để giải quyết việc gia đình. Sau đúng kỳ hạn ba ngày, giữa lúc mọi người đang chờ đợi để chứng kiến cuộc hành quyết, hắn hiên ngang bước ra giữa pháp trường và dõng dạc tuyên bố: "Tôi đã giải quyết mọi việc trong gia đình. Giờ đây, đúng theo lời cam kết, tội xin trở lại đây để chịu tội. Tôi muốn trung thành với lời cam kết của tôi để người ta sẽ không nói: Chữ tín không còn trên mặt đất này nữa".

Sau lời phát biểu dõng dạc của kẻ tử tội, người đàn ông đã đứng ra bảo lãnh cho hắn cũng ra giữa đám đông và tuyên bố: "Phần tôi, sở dĩ tôi đứng ra bảo lãnh cho người này, là vì tôi không muốn để cho người ta nói: Lòng quảng đại không còn trên mặt đất này nữa".

Sau hai lời tuyên bố trên, đám đông bỗng trở nên thinh lặng. Dường như ai cũng cảm thấy được mời gọi để thể hiện những gì là cao quý nhất trong lòng người...

Từ giữa đám đông, hai người thanh niên bỗng tiến ra và nói với quan tòa: "Thưa ngài, chúng tôi xin tha cho kẻ đã giết cha chúng tôi, để người ta sẽ không còn nói: Lòng tha thứ không còn hiện hữu trên mặt đất này nữa".

Giữa sa mạc cằn cỗi, một cụm cỏ hay một cánh hoa dại là cả một bầu trời hy vọng cho những người lạc lõng. Giữa sa mạc nóng cháy, một tiếng suối róc rách là cả một nguồn hy vọng tràn trề cho những ai đang đói khát... Giữa một xã hội khô cằn tình người, giữa một xã hội mà những giá trị tinh thần và đạo đức đã bị bóp nghẹt, chứng từ của người tín hữu Kitô cần thiết hơn bao giờ hết. Giữa biển khơi mù mờ, có biết bao kẻ chới với đang cần một chiếc phao của chữ tín, của lòng thành, của lòng quảng đại, của sự tha thứ...

Người tín hữu Kitô phải sống thế nào để người ta có thể nói: Niềm tin vào cuộc sống, ý nghĩa của cuốc đời vẫn còn cháy sáng giữa xã hội.

Người tín hữu Kitô phải sống thế nào để người ta có thể nói: Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương con người.

Người tín hữu Kitô phải sống thế nào để người ta có thể nói: Con người vẫn có thể yêu thương nhau và sống cho nhau.

Người tín hữu Kitô phải sống thế nào để người ta có thể nói: Tôn giáo không là thuốc phiện mê hoặc quần chúng, nhưng là sức mạnh để cải thiện xã hội.

Trích sách Lẽ Sống

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Một Cách Trả Thù


Những người thổ dân Nam Phi thường đề cao sự tha thứ bằng câu chuyện sau đây:

Có hai người thổ dân rất thù ghét nhau. Một ngày kia, một trong hai người gặp cô gái nhỏ của kẻ thù mình trong rừng. Hắn đã bắt lấy cô gái và chặt đứt hai ngón tay của cô bé. Cô bé vừa chạy về vừa khóc lóc đau đớn, còn tên hung thủ thì vừa đi vừa đắc trí hô lớn: "Ta đã trả thù được rồi".

Mười mấy năm sau, cô bé đáng thương ấy đã lớn lên rồi có gia đình. Một hôm, có một người ăn xin đến gõ cửa nhà cô. Cô nhận ra tức khắc người hành khất chính là kẻ đã chặt tay cô cách đây mười mấy năm. Không một chút oán hờn, không một lời trả đũa, cô vội vàng vào nhà và mang thức ăn ra hầu hạ cho kẻ đã từng hành hạ mình. Khi người hành khất đã ăn no rồi, người đàn bà liền đưa bàn tay cụt mất hai ngón cho ông ta xem và nói: "Tôi cũng đã trả được thù rồi".

"Lấy ân trả oán": đó phải là phương châm hành động của người Kitô chúng ta. Không có cách trả thù nào cao quý hơn bằng yêu thương, tha thứ cho chính kẻ thù. Nói như thánh Phaolô, chúng ta không mắc nợ với nhau điều gì ngoài tình thương mến.

Chỉ có tình thương, chỉ có lòng tha thứ mới có thể tiêu diệt được hận thù. Lấy hận thù để tiêu diệt hận thù, lấy bạo động để tiêu diệt bạo động: con người chỉ đổ thêm dầu vào hận thù và bạo động mà thôi.

Cuộc cách mạng bạo động và đẫm máu nào cũng chỉ mang lại tang thương, chết chóc và không biết bao nhiêu hệ lụy khổ đau khác.

Chỉ có một cuộc cách mạng duy nhất có thể cứu vãn được nhân loại: đó là cuộc cách mạng mà Chúa Giêsu đã đề ra. Chỉ có cuộc cách mạng tình thương ấy mới có thể được tiêu diệt được hận thù. Ðó là cuộc cách mạng mà người Kitô chúng ta cần theo đuổi mỗi ngày. Thay vì tiêu diệt kẻ thù, chúng ta hãy tiêu diệt chính sự hận thù trong tâm hồn chúng ta.

Trích sách Lẽ Sống