Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016

“Hỡi nhân loại, ta yêu người, nhưng hãy cảnh giác”

(GDVN) - Người Việt không thể tạo nên bầu không khí hữu nghị giữa hai dân tộc nếu người Trung Quốc vừa không muốn vừa cố tình xuyên tạc lịch sử.



Tại phiên họp Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam -Trung Quốc lần thứ 9 vừa diễn ra hai bên xác nhận đã hoàn thành các thủ tục lập Lãnh sự quán Trung Quốc tại thành phố Đà Nẵng. 

Chưa có thông tin cho biết Việt Nam có đặt thêm Lãnh sự quán tại Trung Quốc theo thông lệ một đối một hay không.

Việc Trung Quốc đặt lãnh sự quán tại Đà Nẵng cho thấy Bắc Kinh rất quan tâm đến dải đất miền Trung này bởi đây là địa bàn chiến lược có tầm ảnh hưởng lớn đến toàn bộ Biển Đông

Đà Nẵng cũng là một căn cứ quân sự quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam với các sân bay, quân cảng, cơ sở hậu cần…

Trên thế giới, sứ quán các nước thường có bộ phận tình báo hoạt động dưới các tên gọi khác nhau, lãnh sự quán cũng không ngoại lệ.

Vì sao doanh nhân Trung Quốc tìm mọi cách xây dựng cơ sở tại Đà Nẵng, vì sao khách Trung Quốc đến Đà Nẵng ngày càng đông, vì sao Trung Quốc lại chọn Đà Nẵng đặt Lãnh sự quán?

Đó là những câu hỏi cần có câu trả lời chính xác, nghiêm túc cả từ phía chính quyền cũng như từng người dân không chỉ riêng Đà Nẵng.

Ngược dòng lịch sử, chuẩn bị cho cuộc xâm lược Việt Nam đầu năm 1979, Sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội đã gửi thư xúi giục người Hoa ở Đà Nẵng chống phá Việt Nam từ bên trong. Hành động này đã bị lực lượng an ninh Việt Nam phát hiện và ngăn chặn. 

Bức ảnh dưới đây được Infonet.vn trích dẫn trong bài báo đăng ngày 16/2/2016.[1]

Thư của sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội xúi giục người Hoa ở Đà Nẵng chống Việt Nam, tịch thu được của can phạm Hàng Phú Quang bị bắt tháng 7/1978 (Ảnh tư liệu đăng trong sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”) - Ghi chú của Infonet.vn 16/2/2016
Không phải chỉ tại Đà Nẵng, người Việt gốc Hoa được quân đội Trung Quốc lựa chọn đưa vào các “Sư đoàn sơn cước” với nhiệm vụ “chuyên đánh rừng núi, thọc sâu vào hậu phương, hoặc những đơn vị đi trước mở đường, hoặc những đơn vị thám báo, dẫn đường, bắt cóc, ám sát, phá hoại cầu cống, kho tàng của Việt Nam”. [2]

Ngay từ những năm 70 thế kỷ trước, Trung Quốc đã đặc biệt quan tâm đến địa bàn Đà Nẵng, đã sử dụng lực lượng người Hoa như đạo quân thứ năm để đánh phá Việt Nam. 

Ngày nay, các cơ sở làm ăn của người Hoa hiện diện nhan nhản trên mảnh đất này không chỉ vì mục đích kinh tế mà còn phục vụ những mưu đồ chiến lược lâu dài, nham hiểm khiến chúng ta không thể không cảnh giác.

Vấn đề là tại sao người Trung Quốc lại có thể chiếm lĩnh những khu đất vàng, có vị trí vô cùng nhạy cảm quanh các căn cứ quân sự tại nhiều địa phương? 

Số lượng người Hoa hiện diện đông đảo tại các địa bàn chiến lược chỉ là ngẫu nhiên hay nằm trong chiến lược lâu dài mà Bắc Kinh đã hoạch định từ thế kỷ trước?

Sự thật thật sự vẫn rất mù mờ

(GDVN) - Trong tâm khảm người viết, dân tộc Nga, con người Nga văn hóa Nga vẫn thấm đẫm nhân hậu và yêu thương. Chỉ có điều, chính trị dường như đã đổi thay.
Để xảy ra hiện tượng này có nhiều nguyên nhân như chính sách thu hút đầu tư, sự buông lỏng quản lý của chính quyền sở tại và một bộ phận người Việt mất cảnh giác, chưa đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân.
Bên cạnh những người “trái tim lầm lỡ để trên đầu” không thể không nhắc tới những kẻ “cõng rắn cắn gà nhà”, những kẻ đang tiếp tay cho ngoại bang mua đất, mở công ty, nhà hàng, khách sạn, đang tiếp tay cho ngoại bang phỉ báng lịch sử dân tộc, tuyên truyền cho chủ nghĩa bành trướng, xâm lược.
Hành động của họ không chỉ cướp đi bát cơm manh áo của người lao động Việt Nam trong lĩnh vực du lịch mà họ thực sự là kẻ thù của dân tộc, họ không phải là “đồng bào” của chúng ta, mà là kẻ thù của chúng ta.
Người viết hoan nghênh chủ trương của UBND TP Đà Nẵng về việc thí điểm lập Cảnh sát du lịch. 

Tuy nhiên việc giáo dục ý thức dân tộc và nghiêm trị những người Việt tiếp tay cho người nước ngoài gây hại cho đất nước mới là cái gốc bởi không có sự tham gia của người dân, Cảnh sát du lịch không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình.

Những người Việt đứng tên mua đất, mở công ty cho người Trung Quốc trên các địa bàn chiến lược có phải chỉ thuần túy là hám lợi? 

Có thể có một số người như vậy nhưng không thể không đặt câu hỏi bao nhiêu người đã bị Trung Quốc lợi dụng, mua chuộc, trở thành công cụ, thậm chí là gián điệp, hoạt động dưới sự chỉ đạo từ nước ngoài? 

Những người này không chỉ cung cấp cơ sở cho người Trung Quốc sinh sống, kiếm tiền hợp pháp mà rất có thể còn được tuyển dụng vào “đạo quân thứ năm” khi có tình huống xảy ra. 

Những người Việt đang tiếp tay cho người Hoa lũng đoạn nền kinh tế đất nước, phục vụ mưu đồ triển khai “quyền lực mềm” của người Trung Quốc cần phải bị nghiêm trị, không thể chỉ là giáo dục, thuyết phục. 

Xét về góc độ kinh tế, du lịch là ngành công nghiệp không khói do vậy thu hút khách du lịch người nước ngoài là chiến lược phát triển quốc gia nào cũng hướng tới. Du lịch vừa thu hút ngoại tệ, vừa quảng bá hình ảnh về đất nước và con người Việt Nam. 

Một đất nước với rất nhiều cảnh quan thiên nhiên được thế giới công nhận như Vịnh Hạ Long, hang Sơn Đoòng, rừng Quốc gia Cúc Phương… 

Cảnh giác trên Biển Đông sau Tuyên bố chung Trung - Nga

(GDVN) - Khi Philippines bị Trung Quốc đưa vào tầm ngắm dùng vũ lực, thì cái gì đảm bảo mục tiêu tiếp theo sẽ không phải là Việt Nam? Lúc đó Nga sẽ phản ứng thế nào?
Một dân tộc vượt qua nỗi đau chiến tranh, gác lại quá khứ, hướng tới mục tiêu là bạn của tất cả các dân tộc khác. 

Tuy nhiên, du khách Trung Quốc đến Việt Nam không hẳn là đã mang lại nhiều lợi nhuận cho nền kinh tế nước nhà.

Họ mua hàng tại các cửa hàng do người Hoa làm chủ, họ lưu trú tại các khách sạn do người Hoa xây dựng, họ tiêu Nhân dân tệ trong các cửa hàng đó, lợi nhuận được các ông chủ người Hoa chuyển về Trung Quốc.
Người Việt chỉ là người làm thuê trên chính quê hương mình.

Nguy cơ những địa điểm đông khách Trung Quốc vắng khách các nước khác đã được nhiều người kinh doanh du lịch lên tiếng, điều này chắc chắn gây nên những thiệt hại kinh tế chưa thể đo đếm được.

Xét về góc độ văn hóa, một bộ phận du khách Trung Quốc không mang đến Việt Nam nét văn minh phương Đông truyền thống, cách đối nhân xử thế mà Khổng Tử, Lão Tử và các bậc triết gia cổ đại Trung Quốc đề cao mà là phong cách ngông ngênh của nhà giàu mới nổi. 

Tại Trung Quốc, một căn phòng trong ký túc xá dành cho nữ sinh viên được đặt cho cái tên “căn phòng bẩn nhất hệ mặt trời” hoặc “ký túc xá bẩn như bãi rác”.

Vậy nên việc du khách Trung Quốc sang Việt Nam vứt rác trong khách sạn, nói ầm ĩ trong phòng ăn không phải là chuyện quá lạ. 

Người viết cho rằng Bộ Ngoại giao cần làm việc với phía Trung Quốc xử lý du khách đốt tiền Việt Nam tại Đà Nẵng bởi hình ảnh người này đã được ghi lại rõ ràng. 

Có khách Trung Quốc còn giật micro của hướng dẫn viên để nói “Biển Đông là biển Nam Trung Hoa” hay "cố đô Huế giống kiến trúc Trung Quốc vì trước đây khu vực này là của Trung Hoa". 

Bằng các hành động thiếu văn hóa đó, bộ phận du khách Trung Quốc này tự đánh mất thiện cảm của mình chứ không phải người Việt không có thiện cảm với họ.

Xét về góc độ chính trị, các hướng dẫn viên người Trung Quốc thuyết minh với khách đi theo, rằng: "14 thế kỷ trước Việt Nam thuộc một bộ phận phía bắc Trung Quốc. Sau này Việt Nam đã độc lập rồi tự thành lập một quốc gia, nhưng nó vẫn là quốc gia phụ thuộc, phải triều cống cho Trung Quốc". [3] 

Đàm phán về đường lưỡi bò là đầu hàng Trung Quốc

(GDVN) - Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa các nước ven Biển Đông trong đó có Việt Nam không có bất cứ vùng "chồng lấn" nào với Trung Quốc.
Hay "cố đô Huế giống kiến trúc Trung Quốc vì trước đây khu vực này là của Trung Hoa" [4] không còn là sự ngộ nhận, sự kém hiểu biết cả về văn hóa lẫn lịch sử của người hướng dẫn mà còn là sự xuyên tạc lịch sử, cổ súy cho tư tưởng Đại Hán, bành trướng, xâm lược. 

Để chứng minh sự xuyên tạc lịch sử không chỉ của các hướng dẫn viên mà của cả những người đứng đầu Trung Nam Hải, thiết nghĩ cũng nên cung cấp cho bạn bè quốc tế, đặc biệt là người dân Trung Quốc biết rằng: 

“Nguyễn An (chữ Hán: 阮安, 1381-1453), còn gọi là A Lưu (chữ Hán: 阿留, tên gọi ở Trung Hoa), kiến trúc sư thời xưa, người Việt.

Ông là tổng công trình sư và cùng với Sái Tín là kiến trúc sư trưởng của Tử Cấm Thành Bắc Kinh, Trung Quốc. Ông cũng tham gia trị thủy hệ thống sông Hoàng Hà”. [5]

Sách “Kinh thành ký thắng” của Dương Sĩ Kỳ viết: “Nguyễn An tự tay vạch kiểu, thành hình là lập được thế, mắt ngắm là nghĩ ra cách làm, tất cả đều đúng với quy chế. Bộ công và các thợ thuyền đành chịu khoanh tay, bái phục, nghe ông chỉ bảo, sai khiến, thật là người đại tài, xuất chúng”.

Nguyễn An sinh năm Tân Dậu (1381), quê ở vùng Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), năm 1407, nhà Minh  đánh bại nhà Hồ, chiếm được Việt Nam.

Tướng nhà Minh là Trương Phụ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly còn bắt Nguyễn An, Phạm Hoằng, Vương Cấn… đưa về Trung Quốc.  

Nguyễn An là tổng công trình sư thiết kế Tử Cấm Thành, vậy thì “cố đô Huế giống kiến trúc Trung Quốc” hay Tử cấm thành là kiến trúc do người Việt Nam mang sang Trung Hoa 600 năm trước? 

Cũng xin nói thêm rằng những điều nêu trên đã được ghi trong Minh Sử (quyển 304), đã được các học giả Trung Quốc đương đại thừa nhận.

Một bàn tay không thể tạo nên tiếng vỗ, người Việt không thể tạo nên bầu không khí hữu nghị giữa hai dân tộc nếu người Trung Quốc vừa không muốn vừa cố tình xuyên tạc lịch sử.

Một số người Việt có thể vì một phút lầm lỡ mà tiếp tay cho người Hoa lũng đoạn hoạt động du lịch tại Việt Nam, có thể vì hám lợi mà bị mua chuộc, bị lợi dụng, thậm chí bị không chế trở thành công cụ phục vụ cho mưu đồ của họ. Điều này không chỉ diễn ra ở Đà Nẵng, Nha Trang hay một số nơi khác. 

Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, nhưng sẽ không thừa nếu nhắc lại câu nói nổi tiếng của người chiến sĩ cộng sản Tiệp Khắc Jiliut Phuxich: “Hỡi nhân loại, ta yêu người, nhưng hãy cảnh giác”.

Tài liệu tham khảo:
Xuân Dương
(Trích báo Giáo dục Việt Nam)

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

Hãy Làm Chủ Chính Mình



    Một tác giả nọ có kể một câu chuyện ngụ ngôn như sau: Một nhà trí thức, một thương gia và một quan đầu tỉnh bị quân cướp tấn công nhân một cuộc hành trình giữa sa mạc. Sau khi đã đánh đập, bọn cướp bỏ ba người dở sống dở chết bên lề đường. Tuy nhiên, ba người cũng cố gắng lê bước để tìm đến túp lều của một vị ẩn sĩ. Sau khi đã băng bó các vết thương cho ba người, vị ẩn sĩ mới nói với họ: "Túp lều của tôi quá nhỏ. Mùa đông lại sắp đến. Xin mỗi vị cố gắng làm riêng cho mình một căn lều để trú ẩn".

    Nghe thế cả ba người bộ hành đều chống chế, vì họ chỉ muốn tiếp tục cuộc hành trình mà thôi. Vị ẩn sĩ mới cho họ biết rằng tuyết đã bắt đầu rơi và không còn một lối thoát nào có thể giúp họ ra khỏi vùng sa mạc.

    Nhưng làm thế nào để tự mình có thể dựng cho mình túp lều? Nhà trí thức thì than phiền rằng mình không có sách vở trong tay. Thương gia thì quả quyết rằng cả đời mình chỉ biết đếm tiền và giao dịch. Còn viên đầu tỉnh thì cho rằng ông không thể làm việc gì mà không có thuộc hạ.

    Nhưng nước đến trôn rồi thì cũng đành phải nhảy. Không còn lý do gì để khước từ, cả ba người đành phải bắt tay vào dựng riêng cho mình căn lều. Khi họ vừa hoàn thành túp lều thì mùa đông cũng vừa đến. Trong suốt mùa đông dài, họ không còn biết làm gì hơn là ngồi bên bếp lửa để ôn lại chuyện quá khứ... Vị ẩn sĩ thỉnh thoảng cũng xen vào câu chuyện để góp ý và an ủi ba người bất hạnh.

    Ðông tàn, xuân đến. Ba người bộ hành muốn lên đường trở về tức khắc. Nhưng lòng tốt và tình bạn của nhà ẩn sĩ không nỡ để họ ra đi. Thành ra, họ đành ở nán lại một thời gian để giúp ông cày xới và gieo trồng cũng như chăm sóc gia súc. Và rồi, khi ánh nắng xuân chiếu tỏa giữa sa mạc, họ cũng ở lại thêm một thời gian để ngắm cảnh thiên nhiên...

    Một ngày nọ, vị ẩn sĩ mới thắc mắc như sau: "Tôi không còn nghe các ông nói đến sách vở, công việc làm ăn và những người thuộc hạ nữa. Có chuyện gì xảy ra cho các ông không?". Cả ba người đều giữ thinh lặng. Vị ẩn sĩ mới nói tiếp: "Tôi xin phép được trả lời cho các ông nhé. Trước kia, các ông có một ông chủ, ông chủ của các ông có tên là sách vở, là tiền bạc, là các thuộc hạ. Giờ đây, các ông cũng giống như chó lạc mất chủ, các ông cảm thấy tự do. Nhưng tôi nghĩ rằng tốt hơn là các ông nên trở về với sách vở, với tiền bạc, với các thuộc hạ của các ông. Trở về nhưng không với tư cách là nô lệ nữa. Các ông hãy là chủ chính mình. Và nếu các ông muốn có một người chủ luôn để cho các ông tự do hoàn toàn, xin hãy nhớ đến tôi và chủ của tôi".

    Lục soát cho kỹ trong lương tâm, có lẽ ai trong chúng ta cũng phải thú nhận rằng mình là nô lệ của rất nhiều ông chủ.

    Có ông chủ mang tên là một ý thức hệ kiên cố đang trói buộc đôi cánh tư tưởng của chúng ta. Chúng ta bị giam hãm trong vòng nô lệ đến độ không dám đưa chân bước ra khỏi vòng tròn mà ý thức hệ đó đã vẽ sẵn.

    Có ông chủ mang tên là những định kiến đối với cuộc đời, đối với xã hội, đối với con người mà chúng ta không bao giờ muốn từ bỏ, mà chúng ta luôn chụp xuống trên người khác. Có lẽ chúng là hàng rào kẽm gai mà chúng ta khoanh tròn xung quanh chúng ta để mãi mãi chỉ mang lấy một cái nhìn hẹp hòi, ích kỷ.

    Có ông chủ là những thói quen xấu mà chúng ta tích lũy như một pháo đài kiên cố để không muốn rời một bước.

    Có ông chủ là thứ tôn giáo vụ hình thức, trong đó chúng ta cố gắng tô vẽ cho mình một bộ mặt đạo đức, nhưng kỳ thực lại hoàn toàn xa lạ với Tin Mừng của Chân Lý và tự do đích thực.

    Mỗi người chúng ta cần phải rời bỏ những ông chủ quen thuộc để đi vào trong túp lều nhỏ bé, nhưng chính do chúng ta cố gắng tự tạo ra. Nơi sa mạc của cõi lòng, chúng ta sẽ gặp được chính Chúa là ông chủ đích thực của chúng ta. Có trút bỏ mọi ràng buộc trong cuộc sống, chúng ta mới cảm thấy được Ngài chiếm ngự và lúc đó chúng ta mới cảm nhận được niềm hạnh phúc đích thực mà Chúa Giêsu đã hứa: "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".
    
    Trích sách Lẽ Sống


Thứ Ba, 24 tháng 5, 2016

Lòng Tham Không Ðáy


    
    Hôm ấy, trời vừa rạng đông, một ông hoàng nói với tên đầy tớ: "Xem chừng anh mơ ước giàu lắm. Vậy từ giờ này cho tới lúc mặt trời lặn, anh có sức ngần nào thì cứ chạy. Tất cả những ruộng vườn anh chạy vòng quanh được, tôi vui lòng nhường lại cho anh hết".

    Sướng quá! Cha chết sống lại cũng không bằng.

    Tức thì chàng cắm đầu chạy, chạy vùn vụt như Hạng Vũ trên lưng con ngựa Ô-Truy. Chín mười tiếng đồng hồ qua, chàng ta làm chủ được mấy cánh đồng bao la mù mịt. Chàng vừa dừng chân, thì một khu rừng mơn mởn hiện ra trước mắt cám dỗ chàng. Không kịp thở, chàng lại cắm đầu chạy tiếp, chạy một vòng dài nữa.

    Vừa dừng chân, lại một hồ cá mênh mông, với mặt nước trong ngần, huyền ảo phản chiếu ánh mặt trời đã xế chiều. Lại một vòng nữa... Sau cùng, màn đêm đã phủ xuống trên nẻo đường đi. Chàng hổn hển quay bước trở về nhà, để làm bậc tỉ phú với "Ruộng vườn mặc sức chim bay, biển hồ lai láng mặc bầy cá đua".

    Nhưng vừa bước chân qua ngưỡng cửa, chàng ngã lăn xuống đất bất tỉnh. Vợ con vội vàng thuốc thang săn sóc... Nhưng vô hiệu. Nhà tỉ phú đã trút linh hồn sau một ngày dài lao lực quá sức. Người ta đào cho chàng một chỗ nghỉ trong lòng địa cầu, vừa dài vừa rộng, nhưng không quá ba tấc đất.

    Ðiểm qua những câu chuyện cổ kim về lòng tham, chúng ta rút ra được bài học gì?... Chắc có người tự hỏi: sống trong thời củi quế gạo châu, chạy ăn từng bữa này làm gì có nhiều của mà tham với lam. Như những anh ăn mày cũng gắn bó với manh chiếu rách, với chiếc áo tơi đến độ có thể "ăn thua đủ" với những ai đánh cắp.

    Lòng tham không cần bị nhiều cám dỗ mới nổi tính tham. Vì thế đức tính đầu tiên chúng ta cần phải tập là tinh thần từ bỏ, dùng của cải như những phương tiện chứ không phải như mục đích. Bước thứ hai là tập cho có quan niệm: chúng ta chỉ là những người quản lý chứ không phải là chủ nhân những của cải vật chất và có như thế chúng ta mới dễ dàng tiến thêm bước thứ ba: sẵn sàng chia sẻ với những người cần thiết hơn. Không cần phải đợi có tiền muôn bạc vạn mới chia sẻ. Hạt muối cắn hai mới thật sự sưởi ấm lòng người và công đức trước mặt Thiên Chúa.

    
    Trích sách Lẽ Sống

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016

Chúa trời và con đường đáy biển

XUÂN DƯƠNG

  
(GDVN)-Trí tuệ con người vốn không có giới hạn,luôn luôn phát triển. Những gì mà bộ não con người có thể nghĩ ra, sớm muộn sẽ trở thành hiện thực



Có một chủng tộc khiến nhiều người ngưỡng mộ, nhưng cũng không ít người ghen ghét vì sự thông minh là người Do Thái, dân tộc này có một ngày lễ trọng trong năm là “Lễ Quá hải” còn gọi là Lễ Vượt biển (Jewish Passove) [1]. “Lễ Quá hải” bắt nguồn từ câu chuyện lịch sử được đề cập chi tiết trong Kinh Thánh – phần Cựu Ước. 

Chuyện kể về hành trình chạy trốn khỏi Ai Cập của người Do Thái cổ đại đã được Chúa giúp đỡ bằng cách tách đôi biển cả thành một con đường cho dòng người chân trần, đói khát băng qua.

Khi quân Ai Cập đuổi đến, Chúa khép biển trở lại khiến vô số quân lính Ai Cập chết đuối.
Chúa trời và con đường đáy biển (Ảnh: kienthuc.net.vn)
Người Do Thái được Chúa ban cho mảnh đất chỉ có cát trắng và nắng nóng nhưng họ vô cùng biết ơn bởi họ có được điều quý giá nhất là Tự do.
Tự do chắp đôi cánh cho Sáng tạo vì thế ngày nay dù là một quốc gia nhỏ bé chưa đến 20 triệu người, Do Thái vẫn là một cường quốc trên bản đồ chính trị toàn cầu. 

Nếu người Do Thái được Chúa ban cho rừng vàng, biển bạc, nhưng họ loay hoay tìm mãi mà vẫn chưa hiểu ý nghĩa thiêng liêng của hai chữ “Tự do”, liệu Sáng tạo có được chắp thêm đôi cánh? 

Ngay cả khi đã có đôi cánh, nếu không gian của Sáng tạo lại là chiếc lồng “Tự do” được hút chân không thì dù kiên trì đến mấy cũng không thể cất cánh.

Muốn giang rộng đôi cánh, phải có bầu trời.

Có người cho rằng, Chúa trời không công bằng với chính những đứa con của mình, Người cứu vớt đứa con Do Thái mà lại hy sinh đứa con Ai Cập. 

Tuy thế, không thể nói Chúa đã sai lầm, bởi Người đã sớm nhận thấy sự lụi tàn của đế chế Ai Cập, một trong số ít nền văn minh rực rỡ nhất địa cầu.

Sự tàn bạo của các Pharaoh trong cai trị dân chúng, sự ngạo mạn trong việc xây Kim tự tháp hòng đạt đến sự bất tử là con đường tự nhiên dẫn đến diệt vong.

Có "rừng vàng biển bạc", sao Việt Nam không giàu?

(GDVN) - "Có rất nhiều những bài học chúng ta có thể học từ Israel, Nhật Bản, Singapore... để thúc đẩy Việt Nam tiến lên phía trước. Nhưng để có thể làm được điều đó, đầu tiên chúng ta phải thành thực với chính bản thân đó là Việt Nam vẫn là một nước nghèo và có khả năng tái nghèo rất nhanh".
Thế nên, hy sinh đứa con ngạo ngược, chuyên chế để giữ lại những đứa thông minh mới chính là sự sáng láng của Chúa.
Những đứa con được Chúa cứu vớt đã sản sinh cho nhân loại khoảng 160 nhà khoa học được giải Nobel, chiếm 20% tổng số người được giải toàn cầu.

Nơi trần thế này chẳng hiếm trường hợp vua chúa, quan lại vì những đứa con riêng của mình mà hy sinh cả bàn dân thiên hạ, vì phe nhóm của mình mà dửng dưng nhìn dân lành sống mòn trong đói khổ, bệnh tật, nhìn đất nước bị ngoại bang dày xéo…

Có một thành phố, nơi khí thiêng hội tụ, nơi “tinh hoa” chen chúc, khi dân chúng kêu gọi đổi thay, người đứng đầu bảo “không vội được đâu”.

“Không vội” nghĩa là cứ chờ, là giữ nguyên như cũ, không vội là dẫu có sai thì cũng chưa cần sửa?

Điều nguy hiểm nhất của “không vội” là không cần phát triển, là chấp nhận trở thành kẻ đi sau, là biến đất nước thành bãi rác cho kẻ đi trước xả thải?

Quan điểm “không vội” không biết từ bao giờ đã thành phương châm xử thế của cả một hệ thống. Rừng bị tàn phá: không vội; sông cạn trơ đáy: không vội; dân bị tù oan: không vội; thực phẩm bẩn lan tràn: không vội… 

Bộ phim truyền hình Đảo Đười Ươi (Orangutan Island) do kênh truyền hình Khám phá thế giới (Discovery World HD) trình chiếu mô tả hoạt động tại một Trung tâm cứu hộ đười ươi.

Hàng trăm cá thể đười ươi mồ côi được cứu hộ về đây chăm sóc, khi khỏe mạnh chúng được thả lên một hòn đảo, trở về cuộc sống hoang dã.

Điều lo lắng nhất của nhân viên Trung tâm cứu hộ là bầy đười ươi khi thả về rừng bị mất đi hầu hết bản năng tự nhiên.

Chúng không biết bẻ cành cây làm chỗ ngủ, không chịu leo cây mà đi trên mặt đất, nhiều con ngủ ở gốc cây, bụi cỏ, chúng chờ người mang thức ăn tới, tranh giành nhau khiến phần lớn thức ăn rơi vãi xuống nước…

Có một nơi được khẳng định là tiến hóa hơn, văn minh hơn xã hội đười ươi, nhưng một bộ phận không nhỏ cá thể “không phải đười ươi” ở đó dù không cùng loài song lại giống lũ đười ươi Orangutan Island đến kinh ngạc. 

Sự giống nhau đầu tiên phải kể đến là bẩn, đặc biệt là ăn bẩn, ăn không chừa một thứ gì, không chỉ “ăn” các thứ có thể nhai mà còn “ăn” cả các thứ không thể nuốt, tỷ như “danh hiệu anh hùng”. 

Sự giống tiếp theo là “gãi”, đười ươi ngồi đâu cũng gãi, bạ chỗ nào gãi chỗ ấy, đằng này “gãi” là một biện pháp chống “dị nghị” nên giới hạn chỉ được phép gãi từ vai trở xuống… 

Quy luật lượng – chất và cán bộ “tàng hình”

(GDVN) - Làm thế nào để chuyển hóa vô cảm thành tình thương, dối trá thành trung thực, tội ác thành lương thiện nếu lại dựa vào chính sự vô cảm.
Mã di truyền của những cá thể “không phải đười ươi” là bắt nạt kẻ yếu, khúm núm trước kẻ mạnh, nếu “to xác” một tí thì tìm cách tranh giành địa vị con đầu đàn. 

Được nuôi dưỡng bên trong những hàng rào sắt, khi tự do cũng là lúc lũ đười ươi Orangutan Island mất đi khả năng sáng tạo mà thiên nhiên ban cho tổ tiên của chúng.

Dẫu có dạy dỗ mãi thì chúng cũng không thấm vào đầu chút gì, ngoại trừ khả năng bắt chước.

Điều này có phải cũng  đúng với xã hội loài người?

Trong một Vương quốc hùng mạnh, vị Quân vương anh minh không thể có đám cận thần dốt nát. Có thể có những kẻ tham lam, quỷ quyệt nhưng chắc chắn đó đều không phải là người đần độn.

Nếu trong đám cận thần được Quân vương tuyển chọn có quá nhiều người thiếu trí tuệ, thừa lòng tham thì liệu Quân vương có phải là bậc tài cao, đức trọng?

Một trưởng “cấp Cục” gọi chủ tư bản doanh nghiệp nước ngoài là “đồng chí”? Làm đến trưởng của một Cục, người ta chắc chắn phải được dạy dỗ đến nơi đến chốn về lý luận.

Bộ “sưu tập” bằng cấp chắc phải là một tập dày gồm bằng đại học (mà cũng có thể là thạc sĩ hoặc tiến sĩ) mấy bằng lý luận sơ, trung, cao... Không biết khi học người ta có dạy cho cá thể ấy “đồng chí” nghĩa là gì? 

Cũng có thể, trên con đường tiến hóa, cá thể ấy có cách định nghĩa “đồng chí” của riêng mình, nếu đã đi trước thời đại như vậy, ngồi ở vị trí ấy để làm gì?

Còn nếu vẫn là thành viên “nhóm không vội” nghĩa là không đi trước thời đại, vì sao “được dạy dỗ đến nơi đến chốn” mà lại không thấm được chút gì vào đầu, lại xem kẻ bóc lột đồng bào mình là “đồng chí”?

Một “cấp Sở” khi được thông báo, rằng hòn đảo vốn được mệnh danh là “thiên đường chim hải âu” nay không còn bóng chim nào đã trả lời “chim chết là việc chim chết, không liên quan gì đến tôi”? [2].

Thế nhưng lại có chuyện một cán bộ khác bị mất ba con chim, thế là khởi tố, thế là bắt giam mấy kẻ ngỗ ngược dám cả gan trộm chim chào mào quan Sở .

“Chim trời” vốn không phải của Sở nên có chết cũng chẳng liên quan gì, “chim Sở” dù chẳng phải  “của Trời” nhưng dẫu sao vẫn là tầm … “chim Sở”.

Quân vương - logic của nghịch lý

(GDVN) - Một đấng Quân Vương có tinh thần ái quốc vĩ đại, dốc lòng phục vụ nhân dân, có đức cao trọng vọng, có tài năng xuất chúng, đất nước nhất định sẽ hùng cường.
Chúa cho dân Do Thái mảnh đất khô cằn, chỉ có nắng nóng và cát bụi.
Người tin dân Do Thái sẽ sống tốt vì Người biết “Kẻ dẫn dắt” trong đám con dân Do Thái đã sớm nhận thấy hạnh phúc trong nước biển và ánh sáng, ánh sáng trở thành điện, điện biến nước biển thành nước ngọt, nước ngọt đem đến mùa màng bội thu…  

Nếu người Do Thái cứ ngồi khóc trong hào quang ánh sáng, cứ mơ ước về một thiên đường xa vời chưa bao giờ hiển hiện, liệu họ có được như ngày nay?

Dân tộc nào, xã hội nào cũng có giai đoạn thăng trầm, sau vinh quang là cay đắng, cam tâm sống trong cay đắng chỉ là Con, biết nuốt tủi hổ vươn lên sẽ là Người. 

Trên thế gian, không phải chỉ có một con đường duy nhất để “Con” biến thành “Người”, vấn đề là “Con đầu đàn” chọn sao trên trời để định hướng hay nhìn đường mòn để bước theo? 

Dù chọn sao hay chọn đường mòn thì điều quan trọng nhất vẫn là đích đến. Chọn sai đường sẽ mất thời gian, chọn sai đích sẽ mất tương lai. 

Trên đời này có ai dám khẳng định mình nhìn thấy chính xác tương lai phía trước? Nếu đã không chắc xã hội loài người tương lai chính xác sẽ thế nào thì dựa vào đâu để khẳng định nó là thiên đường chứ không phải ảo vọng, làm sao biết đang đi đúng hướng hay chệch hướng?

Trí tuệ con người vốn không có giới hạn, vốn luôn luôn phát triển. Những gì mà bộ não con người có thể nghĩ ra, sớm muộn sẽ trở thành hiện thực. 

Tuy nhiên đó phải là những suy luận logic, phù hợp với quy luật tự nhiên chứ không phải kiểu “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”.

Áp đặt cái thiển kiến của một người cho muôn người không phải là sản phẩm trí tuệ, đó chỉ là sự cưỡng bức mang màu trí tuệ.

Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều đã từng khắc khoải thốt lên: 

Bất tri tam bách dư niên hậu; Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” 
(Chẳng biết hơn ba trăm năm sau, Người đời có ai khóc Tố Như chăng?)

Truyện Kiều trở thành cẩm nang cho một nét văn hóa dân gian là “Bói Kiều”, vậy nhưng Tố Như cũng không thể biết hậu thế vài trăm năm sau sẽ có ai khóc cho số phận của ông?

Chẳng Quân vương nào có thể rẽ biển đưa dân chúng tới miền Tự Do, vậy nên mong muốn có quyền năng của Chúa chỉ là ảo vọng hay còn là sự dại khờ?
Tài liệu tham khảo:
[1]Cụm từ "Jewish Passover” dịch sát nghĩa là “Lễ Vượt qua” song vì nó gắn với câu chuyện vượt biển của người Do Thái nên nhìn chung, các học giả vẫn dịch là “Lễ Quá hải” hay “Lễ Vượt biển”
(trích báo Giáo dục Việt Nam)